An Ninh - Quốc Phòng
     

 Bà tái khẳng định sự cam kết của ông Obama với một thời biểu chuyển tiếp bắt đầu vào tháng 7 năm 2011 nhưng nói rõ rằng sẽ không có sự triệt thoái vội vàng nào và rằng trách nhiệm về ngoại giao, chính trị và kinh tế của Hoa Kỳ trong khu vực “sẽ tiếp tục”.

Chủ đề tương tự như thế đã được lập lại trong các nhận định trước công chúng của tổng thư ký NATO Rasmussen.

Ông Rasmussen cho biết: “Chuyển tiếp không có nghĩa là rút ra. Không nên hiểu lầm như thế. Chúng ta sẽ không để cho Afghanistan rơi vào tay các phần tử khủng bố và các phần tử cực đoan dung dưỡng bọn chúng. Điều đó sẽ không xảy ra.” Ông Rasmussen, nguyên là thủ tướng của Đan Mạch, đề ra điều ông mô tả là một lộ đồ mới cho các hoạt động của NATO ở Afghanistan bao gồm một trọng điểm mới nhắm vào việc bảo vệ nhân dân Afghanistan, và một chính sách mới tích cực tán thành việc tái hò nhp các chiến binh Taleban đã buông vũ khí.

Trong một phát biểu riêng, bà Clinton nói rng Hoa Kỳ có những “quan ngại thực sự” về thế lực của các giới chức tham nhũng trong chính phủ Afghanistan và nói rằng cam kết mà Tổng thống Afghanistan đã đưa ra nhằm chống tham nhũng và cải thiện chính quyền, nay phải “đi đôi với hành động”.

 

 

 

 

 

 

altS

 

Tháng 8 - 2009, vị  Đại tướng Stanley McChrystal, tư lệnh lực lượng quân sự Mỹ và NATO tại Afghanistan, yêu cầu Tổng thống Hoa kỳ, Barack Obama tăng viên thêm 40 ngàn quân để đạt chiến thắng tại đây, trong đó có đề cập tới việc gia tăng huấn luyện binh sĩ cảnh sát Afghanistan, để dần dần trao trách nhiệm bảo vệ an ninh lãnh thổ lại cho các binh sĩ địa phương.

   alt Sau nhiều cuộc họp  kéo dài với  các cố vấn An Ninh Quốc Gia, chiều ngày   01/12/2009, Tổng Thống Hoakỳ Barack Obama, trong bài diễn thuyết tại Học Viện Quốc Phòng West Point ở New York, được truyền hình toàn quốc, đã chính thức loan báo về chiến lược mới của Mỹ tại chiến trường Afghanistan: Tăng thêm 30 ngàn quân tại nước này. Đồng thời cũng vạch ra cách tiếp cận của Mỹ trong việc rút quân, và kêu gọi đồng minh tăng viện.

 alt

Hãy quan sát và thực địa khu vực núi rừng đầy hiểm trở và phức tạp nơi ngũ biên - lục giới: Yếu Tố Trung Quốc không thể được phép bỏ qua

Mở đầu TT. Obama nhấn mạnh về việc Hoakỳ có mặt tại Afghanistan bởi vì các cuộc tấn công ngày 11/09/2001 của tổ chức khủng bố quốc tế al-Qaeda vào nước Mỹ. Ông nói: “Căn cứ địa hoạt động của al-Qaeda là tại Afghanistan, nơi chúng được Taliban hỗ trợ - đây là một phong trào tàn bạo, khủng bố và cực đoan”. Hiện nay, theo ông: “Dần dần, Taliban đang chiếm quyền kiểm soát nhiều nơi tại Afghanistan , trong khi tiến hành các hoạt động khủng bố gây thiệt hại nặng nề chống lại người dân Pakistan ”. Ông nhận định: “Chúng ta chưa mất Afghanistan , tuy nước này đã phải bước lùi trong một vài năm nay”. Và rằng: “Quân Mỹ đang không có đủ trợ giúp để huấn luyện lực lượng an ninh điạ phương, nhằm bảo vệ người dân một cách tốt hơn’’. Nên: “Tôi đã quyết định là vì lợi ích quốc gia của chúng ta, tôi sẽ điều thêm 30.000 quân Mỹ tới Afghanistan ”. “Sau 18 tháng, quân lính của chúng ta sẽ bắt đầu trở về nhà”.

 Trước khi TT. Obama tuyên bố tăng quân tại Afghanistan , nhiều nhà lập pháp Dân Chủ và Cộng Hòa đã thẳng thắn lên tiếng phản đối. Thượng nghị sĩ Dân Chủ, Russell Feingold, bang Wisconsin nói rằng: “Gửi binh sĩ Mỹ tăng viện thêm cho Afghanistan sẽ là một sai lầm nghiêm trọng, có thể càng làm cho nước Pakistan láng giềng thêm bất ổn”. Ông đe dọa: “Quốc hội Mỹ có thể có hành động nếu TT. Obama loan báo gia tăng đáng kể quân số tại Afghanistan ”. “Hiển nhiên là hành động đó bao gồm việc không cho phép chi tiền cho binh sĩ tăng viện”. Ngược lại, Thượng nghị sĩ Cộng Hòa, John McCaine, bang Arizona mạnh mẽ ủng hộ việc tăng quân tại Afghanistan và nhận định về thời hạn rút quân rằng: “Theo tôi thì tuỳ ở tình thế rồi mới định việc rút quân. Muốn thắng được kẻ thù ta phải đánh gục ý chí của đối phương, chứ đừng loan báo thời hạn rút lui”. Hiện nay đang có gần 110.000 binh sĩ trong các lực lượng đa quốc gia tham chiến tại Afghanistan, trong đó có 68.000 binh sĩ Mỹ. Với 30.000 sắp tăng viện, binh sĩ Mỹ và NATO tại đây đã đạt tới con số ngang với số quân đội của Mỹ ở chiến trường Iraq, khi tình hình an ninh ở đây gặp khó khăn vào cuối thời TT Bush. Lúc ấy dư luận Mỹ cũng đòi quân Mỹ phải lập tức rút khỏi Iraq, Nhưng với đợt tăng quân cuối cùng của chính phủ Bush, quân đội Mỹ đã làm chủ được tình thế, chế độ Dân Chủ Iraq  được củng cố, binh lính điạ phương dần dần thay thế quân đội Mỹ. Chính phủ Mỹ đã có thể chính thức công bố thời hạn rút quân Mỹ ra khỏi Iraq. Tuy Iraq vẫn còn bị khủng bố ôm bom tự sát gây rối. Nhưng bọn khủng bố không còn đủ sức cướp chính quyền, hay tạo biến cố xung đột tôn giáo tại đây nữa.  Nay với đợt tăng quân này ở Afghanistan , liệu chính quyền Obama có thể khởi sự  đem quân lính của mình về nhà đúng như dự liệu là 18 tháng sau hay chăng?

 Dù 2 năm trở lại đây, chính quyền Kabul đã bị thu hẹp ảnh hưởng trước phe Taliban. Một phần vì Hoakỳ còn vướng bận tại chiến trường Iraq . Phần khác vì chế độ Karzai bị lên án là tham nhũng. Cuộc bầu cử tổng thống bị coi là có gian lận. Phải bầu lại vòng 2. Nhưng rồi đối thủ tự bỏ cuộc. alt

Ông Karzai được tuyên bố đắc cử. Ông lập tức cam kết diệt hết tham nhũng.

  alt 

Ngoài ra lực lượng Taliban dựa vào hiểm địa tại biên giới Afghanistan và Pakistan để tồn tại và tái bổ sung. Lực lượng Taliban vốn được Tình Báo Pakistan huấn luyện và bảo trợ trong thời chống Liênxô và tranh chấp quyền hành tại Afhanistan. Các bộ tộc Hồi Giáo cực đoan của Pakistan trong vùng, hết mình hậu thuẩn cho Taliban và al-Qaeda. Thế nên muốn giải quyết cuộc chiến Afghanistan thì phải tìm được sự hợp đồng tác chiến giữa Mỹ với chính phủ và quân đội Pakistan . Đến giờ này thì viện trợ quân sự Mỹ cho Pakistan đã được ký kết. Quân đội Pakistan đã mở nhiều chiến dịch truy quét khủng bố và Taliban trong vùng biên giới Pakistan . Chính nhờ vậy, mà chiến lược mới của tổng thống Mỹ, Obama về Afghanitan có nhiều triển vọng đạt được. Nếu thất bại thì Phong Trào Khủng Bố Hồi Giáo Quốc Tế Cực Đoan sẽ tràn ngập Pakistan , đe dọa an ninh Ấn Độ và cả Trung cộng nữa.

 Sau cuộc chiến quái quỷ ở Việtnam, người Mỹ mỗi khi thấy quân đội của mình tham chiến hơi lâu ngày tại một chiến trường hải ngoại nào đó, thì liền nghĩ ngay tới “ác mộng” chiến tranh Việtnam. Thực ra đối với nước Mỹ, thì cuộc chiến Việtnam đã là ‘vô tiền khoáng hậu’ rồi, sẽ chẳng bao giờ tái diễn lần thứ hai nữa. Vì cuộc chiến quái gở Việtnam, tuy lính Mỹ cùng lính Việtnam đánh nhau với lính Việtcộng trên đất Việt, nhưng không phải để giải quyết vấn đề của Việtnam cho Việtnam. Nên họ đã bỏ một nửa nước Việtnam cho Việtcộng thống nhất, tạo cơ hội cho Liênxô và Trungcộng xung đột nhau, lâm thế huynh đệ tương tàn, xé nát khối Cộng Sản Quốc Tế, khiến Liênxô tan rã, Trungcộng theo đuôi Mỹ làm kinh tế Tư Bản.

alt

   Nay thì Mỹ lại lừng lững trở lại Việtnam mang theo chiến lược toàn cầu “ Nước Mỹ Đã Trở Lại Á Châu”, trước khí thế hung hăng bành trướng của Bắckinh, khiến Khối ASEAN “hoan nghênh sự quan tâm trở lại của Mỹ đối với vùng Đông Nam Á”.  Tuy tình hình Việtnam và Asean còn nhiều khó khăn, trắc trở. Nhưng sớm muộn gì các nước trong vùng cũng phải Dân Chủ Hoá chế độ để đủ sức phát triển kinh tế, tự phòng thủ, ngăn bành trướng, nhằm hội nhập với tiến trình toàn cầu hóa.

   Hai cuộc chiến tại Iraq và Afghanistan, ngoài với danh nghĩa là Chống Khủng Bố Toàn  Cầu, nước Mỹ phải giải quyết trực tiếp các vấn đề của 2 nước đó cho chính hai nước đó, chứ không dùng các cuộc chiến ấy vào mục đích giải quyềt các vấn đề tranh chấp quốc tế nào khác như cuộc chiến quái ác Việtnam. Vì Khủng Bố là phong trào chiến đấu “đến chết” chứ không có thương thuyết, thương lượng, thoả hiệp. Nên Mỹ và thế giới diệt được đến đâu thì diệt. Với kinh nghiệm ở Iraq thì phong trào Khủng Bố Quốc Tế đã bị vô hiệu hóa bởi nền Dân Chủ của người Iraq . Tổng thống Obama cũng không thể làm khác được, cho dù phe Dân Chủ của ông có bị mất nhiều ghế Dân Biểu.

***

Từ cột mốc biên giới đến cung hữu nghị Việt Trung

alt
Chiều ngày 30 tháng 11 vừa qua tại Hà Nội, ông Cao Viết Sinh, thứ trưởng thường trực bộ kế hoạch và đầu tư Cộng sản Việt Nam và ông Lỗ Kiến Hoa, trợ lý Bộ trưởng Bộ thương mại Trung Quốc đã ký một công văn liên quan đến dự án xây dựng Trung Tâm Hữu Nghị Việt Trung tại Hà Nội. Dự án này do Trung Quốc tài trợ không hoàn lại (tức là cho không) trị giá 30 triệu Mỹ Kim. Theo ông Lỗ Kiến Hoa thì đây là dự án hợp tác lớn nhất của Bắc Kinh dành cho Hà Nội trong hơn ba thập niên vừa qua và cũng để đánh dấu cái gọi là 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt cộng và Trung cộng (18/1/1950 – 18/1/2010).

Dư luận tại Hà Nội không tin vào các phát biểu của ông Lỗ Kiến Hoa vì cho rằng việc Bắc Kinh đã tặng không cho Hà Nội 30 Triệu Mỹ Kim để xây dựng Trung Tâm Văn Hóa vào dịp này chỉ là che đậy một thủ đoạn khác. Người ta cho rằng Bắc Kinh tặng 30 triệu Mỹ Kim cho Hà Nội là để “thưởng công” vì đã hoàn tất việc cắm cột mốc biên giới phía Bắc mà hai phía đã tiến hành trong gần 2 thập niên vừa qua, kế từ khi ông Lê Khả Phiêu chỉ thị cho Bộ ngoại giao Cộng sản Việt Nam phải nhượng bộ các đòi hỏi của Bắc Kinh để ký Hiệp ước biên giới trên đất liền vào cuối năm 1999.

Qua Hiệp ước biên giới năm 1999, Cộng sản Việt Nam đã nhượng cho Trung Quốc 700 cây số vuông đất biên giới; trong đó có hai kỳ tích quan trọng của Việt Nam là ải Nam Quan và Thác Bản Dốc nay đã thuộc về Trung Quốc. Việc công bố số tiền 30 Triệu Mỹ Kim mà Bắc Kinh cho Hà Nội để xây Trung Tâm Văn Hóa, xảy ra 10 ngày sau khi hai bên đã ký kết ba văn kiện rất quan trọng, đánh dấu hoàn tất việc cắm 1971 cột mốc biên giới (gồm 1378 cột chính và 593 cột phụ) trên đoạn đường 1,400 cây số biên giới giữa hai nước ở phía Bắc. Ba văn kiện này có tên là Nghị định thư về phân giới cắm mốc, Hiệp định quy chế quản lý biên giới Việt Trung, Hiệp định về cửa khẩu và quản lý cửa khẩu trên biên giới đất liền Việt Nam và Trung Quốc.

Cả Hà Nội lẫn Bắc Kinh đã sử dụng bộ máy tuyên truyền để “ca ngợi” về chiến công “thống nhất” được con đường biên giới phía Bắc giữa hai nước. Đồng thời để trấn an dư luận, Hà Nội đã cho chiếu lại một số phát biểu của Thứ Trưởng ngoại giao Vũ Dũng hồi tháng 12 năm 2008 khi hai phía hoàn tất việc cắm cột mốc rằng: Việt Nam không mất một thước đất nào cho Trung Quốc. Tuy nhiên cho đến nay, Hà Nội vẫn không thể trả lời tại sao qua Hiệp ước mới này, Ải Nam Quan và Thác Bản Dốc lại nằm về phần đất của Trung Quốc?

Đổi 700 cây số vuông biên giới và hai kỳ quan của dân tộc (Ải Nam Quan và Thác Bản Dốc) để lấy 30 Triệu Mỹ Kim cho thấy lãnh đạo Hà Nội không những mang tội bán nước, mà còn cố tình dối gạt dư luận và cả những người đảng viên đi theo họ, khi không dám công bố toàn bộ nội dung Hiệp ước về biên giới đã ký với Bắc Kinh vào năm 1999.

Trước khi Trung Quốc công bố việc tặng 30 triệu Mỹ Kim xây dựng Trung Tâm Hữu Nghị tại Hà Nội, Cộng sản Việt Nam đã chấp thuận cho Trung Quốc xây dựng một số thí điểm Học Viện Khổng Tử ở Việt Nam hồi tháng 4 năm 2009. Đây là những trung tâm truyền bá tư tưởng và văn hóa Trung Quốc tại Việt Nam. Những động thái này cho chúng ta nhận diện một số vấn đề sau đây:

Thứ nhất là sau khi dụ được Lê Khả Phiêu để ký Hiệp ước biên giới, Trung Quốc đã từng bước hợp thức hóa sự xâm chiếm của họ trên 700 cây số vuông biên giới qua cái gọi là những đàm phán cột mốc kéo dài từ năm 2001 đến tháng 12 năm 2008. Sau khi hoàn thành xong việc cắm cột mốc thì từ đầu năm nay, Trung Quốc bắt đầu biểu lộ những hành động bá quyền trên Biển Đông: Ra lệnh cấm đánh cá trên một diện tích 130 ngàn cây số vuông của Biển Đông (chiếm 75% diện tích Biển Đông bao gồm cả thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam) từ giữa tháng 5 đến cuối tháng 8 hàng năm; bắt giữ và đánh đập hàng trăm ngư dân Việt Nam đánh cá trên vùng biển của đất nước mình nơi họ đã từng đánh cá từ hàng chục thập niên qua. Đáng lý ra Hà Nội phải mạnh miệng lên tiếng chống Trung Quồc về những động thái nói trên nhưng họ lên tiếng rất yếu ớt và lên tiếng lấy lệ.

Thứ hai là khi xảy ra xung đột giữa hải quân Trung Quốc và hải quân Hoa Kỳ gần đảo Hải Nam vào đầu tháng 3 năm nay, để lôi kéo Cộng sản Việt Nam không hùa theo Hoa Kỳ và các nước Mã Lai, Nam Dương và Phi Luật Tân trong vụ này, Bắc Kinh đã cấp tốc cho Cộng sản Việt Nam vay ưu đãi dài hạn (chừng nào có tiền mới trả) khoảng 300 triệu Mỹ Kim nhằm giải quyết những khó khăn tài chính do sự sụp đổ hệ thống tài chánh của Hoa Kỳ hồi tháng 11 năm 2008. Nhờ sự cho vay ưu đãi của Bắc Kinh, Hà Nội đã có thể cầm cự nền kinh tế trong mấy tháng đầu năm. Trong khi đó, theo các số liệu của Tổng Cục Thống Kề Cộng sản Viêt Nam thì cán cân mậu dịch giữa Cộng sản Việt Nam và Trung Quốc trong năm 2008 chênh lệch rất xa. Trung Quốc đã nhập từ Việt Nam một lượng hàng hóa trị giá 5,6 tỷ Mỹ Kim; trong khi Cộng sản Việt Nam nhập từ Trung Quốc một lượng hàng hóa lên đến 16 tỷ Mỹ Kim – chênh lệch hơn 10 tỷ Mỹ Kim. Hiện chưa có một bản kết toán chi tiết, nhưng các chuyên gia quốc tế cho rằng mức nhập siêu của Cộng sản Việt Nam trong năm nay – 2009 - không thua gì năm 2008. Nghĩa là nền kinh tế của Việt Nam tiếp tục bị hàng hóa Trung Quốc khống chế.

Thứ ba là song song với việc khuyến dụ và hướng dẫn Cộng sản Việt Nam khai thác Bauxite tại vùng Tây Nguyên để cho Trung Quốc chế tạo Nhôm, Bắc Kinh đã xúc tiến xây dựng hai vùng kinh tế bao gồm các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây (Trung Quốc) và Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh (Việt Nam) như một bước thử nghiệm trong việc trao đổi và hợp tác phát triển kinh tế mạnh mẽ hơn với Cộng sản Việt Nam trong hai thập niên tới. Nếu dự án nói trên xúc tiến tốt đẹp, Trung Quốc sẽ mở rộng sự hợp tác kinh tế liên vùng và liên tỉnh thành giữa Trung Quốc và Việt Nam. Nghĩa là ngoài những vùng kinh tế chung giữa hai nước ở các tỉnh phía Bắc, một số tỉnh và thành phố của Trung Quốc như Thượng Hải, Bằc Kinh, Thành Đô, Tứ Xuyên... sẽ hợp tác phát triển kinh tế với những thành phố khác như Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng, Cần Thơ ... của Việt Nam.

Những diễn tiến nói trên cho thấy là Bắc Kinh, từ năm 1991 cho đến nay đã đưa Hà Nội vào trong vòng khống chế một cách có kế hoạch. Trung Quốc đã không cần mang quân đội và người của họ vào Việt Nam chiếm đóng như dưới thời Bắc Thuộc, họ đã núp dưới những chiêu bài giải quyết xung đột biên giới, hợp tác kinh tế, giao lưu văn hóa, phát triển hữu nghị để qua đó buộc lãnh đạo CSVN phải tự khép mình vào trong vòng ảnh hưởng của Bắc Kinh. Trong chuyến viếng thăm Tứ Xuyên hồi tháng 10 vừa qua, Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: “Hợp tác đối tác toàn diện với Trung Quốc là chính sách nhất quán của Việt Nam”. Phát biểu của ông Dũng đã nói lên tất cả sự tự nguyện khép mình của Hà Nội vào trong vòng tay của Bắc Kinh.

Nhu cầu bành trướng thế lực, tìm thị trường tiêu thụ, tìm đất đai cư trú, canh tác và nuôi sống cho hơn 1 tỉ người (có ước tính con số thật là gần 2 tỉ người), nhu cầu khai thác tài nguyên đã khiến Bắc Kinh trở thành một mối đe dọa trầm trọng cho Việt Nam nói riêng và toàn vùng Á Châu nói chung. Mối đe dọa này cộng thêm bản chất ươn hèn, qụy lụy quan thầy của Hà Nội để giữ vững ngai vàng quyền lực, đã đặt nước ta vào hiểm họa Bắc thuộc với những mưu mô, trá hình và xảo ngôn của thời đại mới.

Đánh dấu 60 năm quan hệ Việt Trung vào ngày 18 tháng 1 năm 2010 tới đây, Việt Nam sẽ chính thức bước vào thời kỳ Bắc Thuộc với Trung Tâm Hữu Nghị Viêt Trung mà Thái Thú của Bắc Triều không ai khác là các ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang.

Chừng nào dân ta mới khởi nghĩa giành lại độc lập dân tộc như Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo đã làm?

Trung Điền
Ngày 2/12/2009
---

Kế hoạch hạt nhân của Iran đã đẩy cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân ở Trung Cận Đông ?

  Thanh Thủy,RFI

Ảnh vệ tinh chụp cơ sở làm giàu uranium gần thành phố Qom, Iran, ngày 25/09/2009 (Ảnh  : Reuters)

Ảnh vệ tinh chụp cơ sở làm giàu uranium gần thành phố Qom, Iran, ngày 25/09/2009
(Ảnh : Reuters)

Mối đe dọa về một quả bom do Iran chế tạo đang gây lo ngại cho các quốc gia ở Trung, Cận Đông và có thể khuyến khích các nước này cũng có những dự án tương tự. Libération đề cập đến nguy cơ phổ biến hạt nhân mà không một ai có thể kiểm soát nổi tại Ai cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Ả rập Xê út, Syrie và các nước khác ở vùng Vịnh.
Cuối tuần qua Cơ quan Quốc tế về Năng lượng Nguyên tử đã thông qua nghị quyết lên án Iran đã che giấu trong hai năm việc xây cất một cơ sở mới đề làm giàu chất uranium tại Fordow, gần thành phố Qom.
Mối đe dọa về một quả bom do Iran chế tạo đang gây lo ngại cho các quốc gia ở Trung, Cận Đông và có thể khuyến khích các nước này cũng có những dự án tương tự.
Trên hai trang báo, tờ Libération đề cập đến nguy cơ phổ biến hạt nhân mà không một ai có thể kiểm soát nổi tại Ai cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Ả rập Xê út, Syrie và các nước khác ở vùng Vịnh.
Riêng tại Ai Cập, báo Libération nhắc lại là cách thủ đô Cairo 30 cây số về phía bắc, Inchass là vết tích duy nhất còn lại của chương trình hạt nhân mà chính phủ Ai Cập đã bắt đầu thực hiện với sự hỗ trợ của Liên Xô.
Trong hai mươi năm qua Trung tâm nghiên cứu hạt nhân của Ai Cập đã hoạt động chậm lại và nước này bị khựng lại trong tham vọng nguyên tử sau tại nạn Tchernobyl vào năm 1986.
Nhưng đến năm 2006, trước những tuyên bố ầm ĩ của Iran, tình hình đột nhiên biến đổi. Nhiều người đã ngạc nhiên khi nghe Gamal, con trai của tổng thống Ai Cập, cũng là người có thể kế nghiệp ông Moubarak, loan báo là Cairo sẽ tung ra một chương trình hạt nhân dân sự và ba nước – Pháp, Nga và Hoa Kỳ - đã tuyên bố sẵn sàng cung cấp ba lò phản ứng mà Ai cập dự tính thiết lập tại Dabaa, trên bờ biển Địa Trung Hải.
Trong khi đó bái chí Israel nêu tên Ai Cập trong số các nước có thể đã mua vật liệu hạt nhân qua đường dây của tiến sĩ Khan, người đã giúp cho Pakistan chế tạo bom nguyên tử.
Về Thổ Nhĩ Kỳ, báo Libération nhắc lại sự kiện Ankara được sự bảo vệ của chiếc ô dù hạt nhân của Liên Minh Bắc Đại Tây Dương (NATO), đặc biệt là kho vũ khí đặt tại căn cứ Incirlik (miền nam Thổ Nhĩ Kỳ) mà nước này cùng với Hoa Kỳ nắm giữ chìa khoá.
Cách nay vài tháng, một nhân vật quan trọng trong đảng AKP, đảng nắm quyền tại Thổ Nhĩ Kỳ, kiêm chủ tịch Ủy ban đối ngoại tại quốc hội, đã tuyến bố « Có một điều rõ ràng là nếu như Téhéran sẽ có bom nguyên tử thì chúng ta buộc phải có những dự án tương tự ».
Còn về Ả rập Xê út, nước này cũng như Ai Cập không muốn thấy Iran, với một ban lãnh đạo theo đạo Hồi giáo Chiít, trở thành cường quốc hạt nhân quân sự đầu tiên trong khu vực Trung Đông.
Là một quốc gia đã ký Hiệp ước cấm phổ biến hạt nhân, vào cuối thập niên1980, Ryad đã đóng góp tài chính vào việc phát triển chương trình hạt nhân của Irak. Viện trợ này đã ngưng hẳn tháng 8 năm 1991 khi quân đội của Saddam Hussein đánh chiếm Koweit.
Sau đó Ả rập Xê út bị nghi ngờ đã ký một thoả thuận mật với Pakistan, nước Hồi giáo Sunít đầu tiên có vũ khí nguyen tử, nhằm đổi dầu hỏa để lấy công nghệ hạt nhân.
Giờ đây Ryad tỏ ý muốn có một nguồn năng lượng khác thay thế dầu hỏa để chuẩn bị cho thời điểm nguồn dầu hỏa bị cạn kiệt mặc dù Ryad nắm giữ 25% dự trữ dầu hỏa trên trái đất.
Theo tờ Libération, mùa xuân vừa qua, bộ trưởng kinh tế Pháp, bà Christine Lagarde, thông báo một hiệp ước hợp tác hạt nhân sắp tới đây giữa Paris và Ryad.
 
 

 Chiến Cuộc Afghanistan có Yếu Tố Trung Quốc?

Các nước trong khối NATO và những nước khác đóng góp vào Lực lượng Hỗ trợ An ninh Quốc tế ở Afghanistan, tức ISAF, đã cam kết cung cấp thêm khoảng 7 ngàn binh sĩ để bổ sung cho quân số mà Hoa Kỳ vừa cam kết tăng thêm tại Afghanistan. Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton nói với các vị ngoại trưởng của các nước đồng minh ở Brussels rằng việc đổ thêm quân sẽ làm “thay đổi cục diện” ở nhiều nơi tại đất nước đầy biến động này. Từ thủ đô Bỉ, thông tín viên VOA David Gollust ghi nhận chi tiết trong bài tường thuật sau đây.

ISAF sẽ có thêm ít nhất 37,000 binh sĩ ở Afghanistan vào năm 2010

Theo dự kiến, từng nước một sẽ chưa công bố lời loan báo cụ thể trước khi diễn ra một hội nghị của NATO về việc xây dựng lực lượng vào tuần tới ở Bỉ.

Nhưng Tổng thư ký NATO, ông Anders Fogh Rasmussen cho biết các cam kết tập thể đưa ra tại một cuộc họp kín của NATO và các ngoại trưởng góp sức trong ISAF cho thấy 44 quốc gia có lực lượng ở Afghanistan vẫn “đoàn kết tuyệt đối” trong sứ mạng ở nước này.

Ông Rasmussen nói: “Ít nhất 24 quốc gia sẽ gửi thêm lực lượng tham gia sứ mạng vào năm 2010. Họ đã đề nghị khoảng 7 binh sĩ mới sẽ đến Aghanistan, và sau đó có thể gửi thêm nữa. Tính cả phần đóng góp của Hoa Kỳ, ISAF sẽ có thêm ít nhất 37 ngàn binh sĩ vào năm 2010 so với năm nay. Đó là tình đoàn kết được chứng minh qua hành động, và điều đó sẽ có một tác động mạnh mẽ trên thực tế.”

Các nước tham gia ISAF đã nghe theo lời hô hào của Ngoại trưởng Clinton ủng hộ sách lược về Afghanistan mà Tổng thống Barack Obama công bố trước đây trong tuần. Sách lược này dựa vào các đóng góp mới quan trọng từ phía các đồng minh Hoa Kỳ nhưng cũng gia tăng việc huấn luyện an ninh và hỗ trợ dân sự cho chính phủ Afghanistan.

Trong lời kêu gọi các vị ngoại trưởng đối tác, mà văn bản được phổ biến bởi các giới chức Hoa Kỳ, bà Clinton nói bà tin rằng việc bổ sung thêm 30 ngàn binh sĩ Hoa Kỳ sẽ “thay đổi cục diện” ở nhiều nơi tại Afghanistan, và nói rằng có thêm binh sĩ trong ISAF sẽ mở đường cho việc bàn giao sớm hơn các trách nhiệm về an ninh cho Afghanistan.

Ngoại trưởng Hoa Kỳ nói rằng trong khi nhu cầu bổ sung lực lượng là điều cấp thiết, sự hiện diện của các lực lượng sẽ không phải là vô thời hạn.