| Diễn Đàn - Độc Giả |
|
Việt Nam - Nguy Cấp Tại sao Trung Quốc muốn thuê hàng trăm hecta rừng đầu nguồn của Việt Nam? Có phải là để trồng cây, khai thác rừng… như một kiểu kinh doanh bình thường? Theo một nhà khoa học tại Hà Nội, người từng hoạt động trên Bộ Tài Nguyên Môi Trường VN, có thể tin rằng Trung Quốc đang muốn dò tìm và khai thác mỏ phóng xạ uranium tại các rừng đầu nguồn VN. Trang web Boxit.net của giới trí thức quốc nội hôm Thứ Sáu đăng bài viết nhan đề “Nấp sau chiêu bài thuê đất trồng rừng là gì?” của nhà khoa học Vũ Ngọc Tiến đã nêu minh bạch về các mỏ phóng xạ uranium trên các rừng đầu nguồn VN.
Lời giới thiệu của trang Bauxite Việt Nam viết, trích:
“Vấn đề đáng lạ không phải chỉ là 10 tỉnh tự tiện cho nước ngoài thuê đất trồng rừng đầu nguồn. Vấn đề là một tình trạng “quân hồi vô phèng” đối với bờ cõi thiêng liêng của Tổ quốc. Dưới không dám phê bình trên, để cho trên muốn làm gì mặc ý thì trên cũng thả lỏng cho dưới tha hồ đem tài sản của toàn dân ra cứ thế “đổi trao bán chác” để kiếm miếng lợi về mình…”
Nhà khoa học Vũ Ngọc Tiến viết bài báo nguy đúng Ngày Mồng Một Tết Canh Dần từ Hà Nội, trong đó nêu rõ về các mỏ quý của VN — kể cả mỏ uranium, một chất hiếm để dùng làm bom nguyên tử — với tình hình trích như sau:
“Một chiều giáp Tết, bỗng dưng điện thoại nhà riêng của tôi liên tục đổ chuông. Bạn bè khắp nơi gọi đến (GS Nguyễn Xuân Hãn, cựu phóng viên chiến trường Phí Văn Chiến… ở HN; nhà văn Hà Văn Thùy, nhà tình báo quân đội lão thành – cụ Nguyễn Vũ Hiệp ở TP HCM; rồi cả chị bạn đạo diễn Việt Linh bên Pháp…) tất thảy đều đặt cho tôi những câu hỏi cùng một chủ đề: VNT đã đọc bài của hai vị tướng Đồng Sĩ Nguyên, Nguyễn Trọng Vĩnh trên trang mạng Bauxite Việt Nam chưa? Bằng góc nhìn của “ba nhà” cộng lại (nhà văn – nhà báo – nhà địa vật lý), VNT hãy thử mổ xẻ tin này cho bạn bè nghe thử?…
Tôi đã đọc kỹ bài viết của hai vị tướng lão thành, khả kính và rất đồng cảm với mối lo ngại sâu sắc của các ông trước sự thật hãi hùng: Gần 300 ngàn ha rừng đầu nguồn, trong đó có 264 ngàn ha thuộc 10 tỉnh biên giới xung yếu đã được cắt đất cho người Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan thuê trong thời hạn 50 năm (!?) Khỏi cần bàn đến nguy cơ tiềm ẩn về an ninh quốc phòng bởi tướng Nguyên, tướng Vĩnh đã phân tích ngắn gọn, nhưng rất đầy đủ, sắc lẹm như dao chém chuối. Nguy cơ về môi trường cũng đã được thực tế chứng minh qua mấy mùa mưa lũ gần đây.
Chỉ xin lưu ý, vào những năm giữa của thập niên 90 thế kỷ trước, tôi cùng cố Kỹ sư Lưu Xuân Viện, nhà văn Bùi Bình Thi tham gia Ban Giáo dục truyền thông về môi trường, thuộc Ủy ban quốc gia về nước sạch – vệ sinh môi trường do GS Bộ trưởng Phạm Song làm Chủ nhiệm. Hồi đó, với sự giúp đỡ của GS Phạm Song, tôi đã có cơ hội khảo sát kỹ nguyên nhân gây lũ lụt, đặc biệt là những trận lũ bùn đất diễn ra khủng khiếp ở Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Cao Bằng, Tuyên Quang, Kon Tum. Trong hàng loạt bài báo công bố trên các tờ Nhân dân, Lao động, Pháp luật, Văn nghệ… tôi đã phân tích cụ thể tình trạng phá rừng đầu nguồn và khai thác khoáng sản bừa bãi bằng hình thức “khai thác thổ phỉ”, được chính quyền sở tại dung túng hoặc thâm chí ăn chia. Đó cũng chính là 2 nguyên nhân chính dẫn đến thảm họa lũ bùn đất. Ngoài ra, bằng quan hệ riêng của anh Lưu Xuân Viện, tôi đã gửi 2 bản báo cáo chi tiết lên Văn phòng Chính phủ, kiến nghị kiểm soát chặt chẽ rừng đầu nguồn và đề xuất một số giải pháp chấm dứt ngay tình trạng khai thác thổ phỉ ở các mỏ quặng thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc. Song những kiến nghị ấy hầu như ném đá ao bèo, chìm trong im lặng! Nay nhân bài viết của tướng Nguyên, tướng Vĩnh, tôi muốn đi sâu vào khía cạnh thất thoát tài nguyên khoáng sản, điều mà 2 vị tướng quân chưa bàn xét tới.
Quy luật phân bố khoáng sản, nhất là kim loại màu và kim loại quý hiếm cho thấy chúng thường xuất hiện nhiều ở các vùng “núi già”, tức vùng có địa tầng rất cổ thuộc thời kỳ Pro-te-ro-zoi và Pa-le-o-zoi. Trên bản đồ địa chất nước ta, đó là các vùng thuộc khối nâng Việt Bắc, khối nâng Kon Tum (Tây Nguyên) và đới khâu Con Voi (Lào Cai, Yên Bái), đới khâu Sơn La – Điện Biên. Người không có chuyên môn địa chất chỉ cần nghe qua các thuật ngữ khoa học trên cũng mường tượng ra khả năng Kon Tum và các tỉnh biên giới phía Bắc có nhiều mỏ quặng kim loại màu và kim loại quý hiếm. Kết quả nghiên cứu của các nhà địa chất Pháp, Nga, Việt Nam hơn 100 năm (1905 – 1985) đã chỉ ra hàng trăm mỏ, điểm quặng ở các vùng lãnh thổ này, trong đó đặc biệt quan trọng là các mỏ sulfua đa kim, đất hiếm, thậm chí có cả Uranium…
“…Tôi ngờ rằng, trong 264 ngàn ha rừng đầu nguồn ở các tỉnh biên giới đã cho người nước lạ thuê kia không chỉ có gỗ mà còn có cả khoáng sản và đó mới là mục đích sâu sa, thâm hiểm của ông bạn nước lạ chăng? Điều này kiểm tra không khó, nhưng Chính phủ có dám làm, dám xử lý không vẫn còn đang bỏ ngỏ. Tuy nhiên, nếu khả năng này xảy ra thì sự tàn phá rừng đầu nguồn, kết hợp với đào bới quặng sẽ là hai tác nhân gây ra thảm họa lũ bùn đất như đã từng xảy ra ở sơn La, Lào Cai, Tuyên Quang, Cao Bằng mà hơn 10 năm trước tôi đã từng đến tận nơi điều ta, nghiên cứu và cảnh báo…”
Chưa thâý có trả lời chính thức nàò từ phía chính phủ Hà Nội trước thông tin về các mỏ quý kim, kể cả phóng xạ uranium, đem cho TQ khai thác. Trong khi đó trang web chính của Bauxite VN hiện vẫn còn bị tin tặc đánh phá.
***
Kính thưa các Quý Bà Con Đồng Bào khắp nơi!
a) Nhân tiện cách đây 4 ngày tôi đi xe khách có chiếu một đoạn cảnh thi nhảy của Băng Pari by Night. Trong băng có mấy đôi thi nhảy tại Hải Ngoại do Người Việt Nam tổ chức, toàn là cảnh các Cô gái Việt Nam rất xinh đẹp nhảy với Trai Tây. Tôi rất không hài lòng và đau đớn cho trí tuệ và danh dự của Người Việt Nam chúng ta. b) Lâu nay ở trong nước trên Truyền hình và trên Phim do các Hãng phim của Việt Nam sản xuất chỉ có xuất hiện cảnh Trai Tây, Trai Tàu yêu, cặp kề và lấy Gái Việt Nam chúng ta. Ấy thế mà không thấy ai lên tiếng. Các Vị Chóp bu về chính trị, về văn hoá cũng không bao giờ thấy lên tiếng, kiểm duyệt. Cứ để cho những hiện tượng trên tái diễn. c) Nhiều năm nay Phụ nữ xinh đẹp Việt Nam lấy chồng Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, v,v, rất nhiều nhưng dư luận trong nước và các Vị như Chủ Tịch Nước, Thủ Tướng hay TBT ĐCSVN không một ai lên tiếng yêu cầu ngăn chặn. d) Phụ nữ VN ta làm đĩ điếm công khai bên đất TQ dọc Biên giới phía Bắc rất nhiều cũng chẳng một Vị "Chính Trị Gia" nào lên tiếng phản đối. Báo chí TQ, Singapor đưa tin hạ nhục các Cô gái Việt Nam, kêu gọi Đàn Ông họ sang lấy vợ Việt Nam ra rả cũng chẳng thấy "Vị tai to mặt lớn nào" lên tiếng. Những vấn đề trên cho thấy Đàn Ông Việt Nam-Đồng nghĩa với Dân Tộc Việt Nam- đang ở thế yếu, đang bị hạ nhục trước Đàn Ông Tây, Đàn Ông Tàu. Chúng ta đang chứng tỏ trí tuệ của chúng ta thấp kém, "đầu óc Người Việt Nam" chúng ta dốt nát, kém cỏi. Những Nhà lãnh đạo đất nước, những Người có quyền lực nhất nước, những cá nhân tranh đấu chính trị-dân chủ phải là những cá nhân có trách nhiệm nhất đối với đất nước và dân tộc phải lên tiếng yêu cầu chấm dứt mọi hành động và biểu hiện như tôi đã nêu. Nhân đây tôi thiết tha yêu cầu mấy vấn đề sau: 1- Kính đề nghị các Quý Ông như Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Trần Đức Lương, Phan Văn Khải, Nguyễn Văn An, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng và các Ông trong BCT ĐCSVN hiện nay xem xét những việc tôi nêu trên và đưa ra quyết định ngăn chặn Phim ảnh Việt Nam và Báo chí cũng như trên thực tế cổ vũ cho việc Trai Tây, Trai Tàu cặp kề và lấy vợ Việt Nam. Đây là nỗi nhục của Người Việt Nam chúng ta. 2- Kính đề nghị các Ông chủ kinh tế, các Giám đốc kịch bản, đạo diễn, v,v, cả trong và ngoài nước từ nay hãy lưu ý các vấn đề Gái Việt Nam và Trai Tây, Trai Tàu để ngăn chặn việc các cô gái của chúng ta yêu đương, nhảy múa và lấy chồng ngoại. Đây là trí tuệ của Dân tộc chúng ta, là trí thông minh của Đàn Ông cũng như của Dân tộc ta. Đừng để nỗi nhục không đáng có đó tiếp diễn mãi. Chúng ta phải giữ phụ nữ của chúng ta chứ! Ngược lại ta phải tự hào việc Đàn Ông ta lấy vợ Tàu, vợ Tây mới đúng. 3- Kính mong tất cả Anh, Em bạn hữu cùng toàn dân Việt Nam hãy để ý vấn đề tôi nêu trên. Đây là trí thông minh, là tương lai và sự phát triển của tất cả chúng ta và con cháu chúng ta. Xin chân thành cảm ơn sự lưu tâm của các Quý vị! Hà Nội, ngày 25.02.2010. Nguyễn Trung Lĩnh. ******* Suy ngẫm xuyên qua hơn hai thiên niên kỷ
- Luật sư Lê Mai Anh
Đã mấy năm rồi, tôi mới trở lại thăm Cổ Loa, nơi mà An Dương Vương đắp thành dựng Đô giữ nước hơn hai nghìn năm trước.
Vì tuổi cao, huyết áp cao, chân đau, tôi không thể đi thăm hết các vòng thành vĩ đại đã bị thời gian, nắng, mưa biến thành phế tích. Thành quách xưa nay chỉ còn là hình dáng. Ngồi trên xe, phóng tầm mắt qua các vòng thành nguy nga thuở nào chỉ còn là những lằn đất nhấp nhô mà người dân địa phương đang sử dụng để trồng cây hoặc làm nhà, phục vụ cuộc sống lam lũ hàng trăm đời nay của một vùng cư dân nông nghiệp. Chỉ khi xe vào đến khu trung tâm, tôi mới thấy hàng quán tạm bợ hai bên đường đứng chen lấn, chủ yếu là hàng giải khát, hàng ăn và hàng lưu niệm. Cuộc sống nơi đây nhộn nhịp hẳn nên khách du lịch tương đối đông, các xe con, xe máy, xe ca đậu san sát. Xe buýt từ nội thành đã đến tận nơi.
Đền thờ An Dương Vương và Am Mỵ Châu hương khói nghi ngút. Giếng Ngọc cũng được sửa sang nằm giữa hồ nước trong vắt.
Cũng giống như những khách hành hương khác, sau khi đi thăm các di tích, vào thắp hương trước bàn thờ Đức Vua Thục An Dương Vương và Am Mỵ Châu, tôi ngồi bên đầu Rồng để nghỉ ngơi.
Nhìn cảnh “thành cũ lâu đài bóng tịch dương” của kinh đô Âu Lạc hơn hai ngàn năm trước mà đầu óc tôi miên man nghĩ về một thời bi tráng của dân tộc.
Truyền thuyết kể rằng khoảng giữa thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên, Thục Phán sau khi chỉ huy con dân Âu Việt và Lạc Việt đánh bại nhà Tần, một đế chế mạnh nhất thời Trung Hoa cổ đại, giết chết tướng giặc Đỗ Thư, dựng lên nhà nước Âu Lạc, lên ngôi vua, lấy tên là An Dương Vương. Thục An Dương Vương đã trọng dụng tướng quân Cao Lỗ, một vị tướng soái tài ba, một khai quốc công thần, xây thành Cổ Loa, một tòa thành quân sự vĩ đại, chế tạo ra nỏ Liên Châu, một vũ khí rất lợi hại lúc bấy giờ, còn gọi là Nỏ Thần Liên Châu để bảo vệ nền độc lập lâu dài của đất nước.
Nhà Triệu, một vương triều phía Nam Trung Hoa nhiều lần đem quân xâm lược Âu Lạc đều bị thua. An Dương Vương dựa vào sự chỉ huy tài tình của tướng quân Cao Lỗ cùng với thành cao, hào sâu, nỏ thần Liên Châu lợi hại đã đánh bại quân Triệu.
Nhà Triệu biết không thể dùng sức mạnh quân sự để tiêu diệt và khuất phục được nước Âu Lạc cuối cùng phải dùng đến độc kế. Còn thục An Dương Vương thấy quân dân Âu Lạc liên tiếp thắng lợi sinh chủ quan coi thường quân địch. Thế rồi cái gì đến ắt phải đến. Cuối thế kỷ thứ 3 trước công nguyên, vua nhà Triệu là Triệu Đà cho người thông hiếu với Âu Lạc, cho con trai là Trọng Thủy sang để làm rể Thục An Dương Vương và ở lại Cổ Loa làm con tin. Đi nước cờ này Triệu Đà bắn một mũi tên trúng hai đích là hòa hiếu tạm thời và làm suy yếu nước Âu Lạc, tiến tới thôn tính được Âu Lạc.
Âm mưu thông hiếu quỷ quyệt đó dứt khoát không qua được con mắt nhìn xa của các bậc đại thần nhất là vị khai quốc công thần tài ba lỗi lạc, tướng Cao Lỗ. Ông đã nhiều lần kiên quyết can gián và đã bị An Dương Vương cách chức. Triều đình mất đi một con người thông minh, tài ba. An Dương Vương say sưa với vị thế mới của mình, chủ quan cho rằng nhà Triệu đã từ bỏ âm mưu xâm lược, phải cho con trai sang làm rể, làm con tin. Và chắc chắn trong quá trình thực hiện âm mưu “mưa dầm thấm lâu” của cha con họ Triệu, vua Thục cùng một số đại thần Âu Lạc đều đã được biếu xén mua chuộc bằng những món quà cáp đắt tiền, những sản vật hiếm có, những lợi ích kinh tế đến từ phương Bắc. Đến đây thì đích thứ hai của mũi tên mà nhà Triệu bắn ra đã đạt được. Người của họ giả dạng lái buôn và tùy tùng dần dần lọt vào Hoàng cung Âu Lạc, nghiên cứu rất kỹ các vị trí bố phòng xung yếu của Loa Thành và đánh cắp bí mật chế tạo vũ khí nỏ thần Liên Châu.
Loại được trung thần tài năng, gây mâu thuẫn nội bộ, đưa lực lượng vào trong lòng nước Âu Lạc, đánh cắp được vũ khí chiến lược, nắm giữ được các vị trí tử huyệt, dã tâm xâm lược vốn là bản chất của các thế lực phong kiến Phương Bắc liền bộc lộ ngay tức khắc. Từng đoàn quân xâm lược trùng điệp kéo sang với vũ khí chiến lược của chính người Âu Lạc, cộng với đội quân phản gián, nằm vùng cùng nhất tề nổi dậy. Thế giặc như nước vỡ bờ, ba quân không còn tướng tài thao lược chỉ huy tổ chức chống giặc, kinh thành thất thủ. Thục An Dương Vương chỉ còn kịp đem theo con gái Mỵ Châu vợ Trọng Thủy chạy tháo thân về phía biển Nam. Trong bước đường nguy quẫn, Vua Thục đã trút giận tuốt gươm chém đầu con gái và tự vẫn.
Nhà nước Âu Lạc bị tiêu diệt. Lịch sử dân tộc ta đã phải trả giá bằng một ngàn năm đô hộ của phong kiến Phương Bắc, chỉ vì cái lỗi không nhìn xa trông rộng của kẻ cầm đầu.
Ngẫm lại câu chuyện bi tráng của một triều đại phong kiến nước nhà cách đây hai ngàn hai trăm năm, tôi tự hỏi mình: Thục An Dương Vương có công lớn hơn hay có tội lớn hơn với dân tộc này?
Trước hết phải nói rằng: Thục An Dương Vương có công lao rất lớn với dân tộc, chỉ riêng việc chỉ huy cuộc kháng chiến mười năm đánh bại quân xâm lược nhà Tần, một thế lực hùng mạnh nhất bấy giờ, lập nên nhà nước Âu Lạc đã là một mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, nó có thể sánh ngang với các cuộc kháng chiến chống Tống, phá Nguyên, đuổi Minh, diệt Thanh của cha ông ta thủa trước và cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ vừa qua. Với việc xây dựng thành công tòa thành quân sự Cổ Loa, chế tạo ra thứ vũ khí lợi hại nhất lúc bấy giờ là nỏ thần Liên Châu, ngăn chặn thành công các cuộc xâm lăng của nhà Triệu cũng là công lao vô cùng to lớn của ông đối với dân tộc.
Một vị quân vương với võ công hiển hách, lập nên một nhà nước hùng mạnh đủ sức đương đầu với thế lực phong kiến siêu cường Phương Bắc suốt 50 năm, có thể nói Thục An Dương Vương là vị vua có công đầu tiên trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta.
Còn tội thì sao? Thục An Dương Vương có tội trong việc nhà nước Âu Lạc bị tiêu diệt hay con gái ông là Mỵ Châu có tội?
Không, Mỵ Châu không có tội tình gì, nàng chỉ là nạn nhân của một mối tình chính trị, một thương vụ thông hiếu mù quáng, phải chịu tiếng oan là giặc trong nhà và bị vua cha chém đầu lúc cùng đường quẫn trí. Phải nói nàng sống đúng với trái tim trong trắng của mình chứ không phải “Trái tim lầm chỗ để trên đầu” (Tố Hữu).
Nhìn bức tượng không đầu và cái chết oan nghiệt của nàng cách đây hơn hai ngàn năm, bất kỳ một vị khách tham quan nào cũng phải ngẹn ngào, thảng thốt. Không ai có đầu óc mà không tỏ lòng oán trách đức vua đã gây ra thảm cảnh mất nước rồi lại đổ lỗi lên đầu con trẻ.
Ai gả Mỵ Châu cho Trong Thủy để thông hiếu với Triệu Đà? Chính là An Dương Vương. Ai không nghe lời can gián của tướng quân Cao Lỗ về chiến lược ngoại giao với nhà Tần? Chính là An Dương Vương. Ai bãi chức tướng quân khai quốc công thần tài ba lỗi lạc Cao Lỗ, để đến khi quân đội không có người chỉ huy như rắn mất đầu phải tháo chạy? Chính là An Dương Vương. Ai đưa Trọng Thủy cùng đội quân đội lốt phục vụ và lái buôn vào thành Cổ Loa? Chính là An Dương Vương.
Vậy thì tại sao con người tài ba lỗi lạc như An Dương Vương lại mắc những sai lầm chết người như vậy? Điều này chỉ có thể lý giải bằng tâm lý say sưa ngủ quên trong chiến thắng. Thói đời xưa nay là vậy, sau một thắng lợi hiển hách, kẻ đứng đầu đất nước thường rất dễ chủ quan khinh địch. Chiến thắng càng lớn chủ quan càng nhiều. nhất là các triều đại không biết đặt vững nền tảng tinh thần trên lòng dân, thường lao nhanh vào ăn chơi hưởng lạc, đội ngũ quan lại thì tham nhũng hà hiếp dân lành, các bậc trung thần bị ruồng bỏ, thậm chí bãi quan cách chức hoặc bị giết hại, nhân dân oán hận, sản xuất đình đốn. Một chế độ được dựng lên những tưởng dài lâu với sông núi, nào ngờ như tòa lâu đài nguy nga nhưng mục ruỗng, chỉ một cơn gió to là sụp đổ.
Và kẻ thù phương Bắc chỉ chờ có vậy. Một khi nhìn thấu vào nội tình của triều đình và dân chúng nước ta thì chúng lập tức trờ mặt, biến láng giềng tốt thành ngay kẻ thù, kéo sang đánh úp, mở đầu cho mối thảm họa lớn nhất, một ngàn năm tăm tối của dân tộc ta.
Rõ ràng là:
Một cá nhân sai lầm, tai họa chỉ mình họ chịu.
Một chủ gia đình sai lầm, cả nhà chịu họa.
Một lãnh đạo sai lầm cả quốc gia nghiêng ngửa, trăm họ lầm than.
Bài học nhãn tiền của nhiều dân tộc, qua mọi thời đại nghĩ mà kinh sợ hãi hùng.
Tôi trộm nghĩ trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay các nước, các dân tộc, các khu vực phải dựa vào nhau hợp tác, cùng phát triển. Đó là một bước đi tất yếu, không nước nào có thể đứng ngoài và cũng không thể không đổi mới về nhận thức để bắt kịp tình hình. Tuy nhiên do sự phát triển không đồng đều trong thế và lực giữa các nước, nhiều nhà chính trị đã lợi dụng sự hợp tác toàn diện này để phục vụ cho những toan tính chính trị đen tối của họ khi thời cơ đến.
Các cụ ta xưa có câu : “yêu nhau rào dậu cho chắc” , ấy là nói quan hệ hai nhà ở cạnh nhau, muốn êm ấm hòa thuận lâu dài, hãy rành mạch trong mọi việc. Một kinh nghiệm sống để đời, còn đúng đến ngày nay và hẳn là còn đúng đến nhiều đời sau. Suy rộng ra, điều ấy càng rất quan trọng trong mối bang giao giữa các nước vốn có đường biên giới chung. Hai cuộc chiến tranh biên giới phía Tây Nam với Campuchia và phía Bắc với Trung Quốc vào thập niên bảy mươi của thế kỷ trước là bài học đắt giá vẫn còn nóng hổi.
Việt Nam – Lào – Campuchia, ba nước Đông Dương sát cánh bên nhau suốt một thế kỷ, đánh Pháp rồi đánh Mỹ. Xương máu củabao thế hệ ba nước đã vun đắp nên tình hữu nghị đặc biệt trên bán đảo Đông Dương. Ấy vậy mà, khi vừa giành được độc lập, những người cộng sản Khơ me đỏ Campuchia chẳng hiểu nghe ai xúi bẩy đã cắm phập lưỡi dao vào sườn những người cộng sản anh em Việt Nam để đòi đất, gây ra cuộc chiến tranh thảm khốc giữa những người đồng chí cùng chung một lý tưởng, cùng chung một chiến hào. Trong tình cảnh khó khăn, rối ren như vậy, Đảng Cộng Sản Trung Quốc – một Đảng đàn anh, không những không đứng ra hòa giải mà lại phát động một cuộc chiến tranh xâm lược biên giới phía Bắc, để ủng hộ những người Cộng sản Campuchia, vứt phăng khẩu hiệu “Môi hở răng lạnh, máu chảy ruột mềm” của tình hữu nghị “Núi liền núi, sông liền sông” mà hai Đảng đã dày công vun đắp cả nửa thế kỷ. Hậu quả của nó là hàng vạn con em của ba nước phải hy sinh một cách oan nghiệt. Cùng với sự việc này, người Việt Nam buộc phải nhớ đến Hoàng sa. Trong lúc chúng ta đang phải vất vả dồn sức đánh giặc ở đất liền thì người bạn đã thừa cơ cướp gọn hòn đảo này, Người Việt Nam càng quan tâm hơn tới những ứng xử ngang ngược của Trung Quốc tại biển Đông nhất là ở quần đảo Trường Sa hiện nay. Cho đến nay quan hệ Việt –Trung tuy được coi là đã trở lại bình thường nhưng lãnh thổ, lãnh hải của chúng ta vẫn bị họ chiếm giữ một phần, và họ đang ngày càng lấn lướt một cách ngang ngược trên những phần còn lại. Thân thể Tổ quốc ta vẫn còn rỉ máu, binh lính và nhân dân chúng ta vẫn còn bị giết hại một cách vô lối, tài nguyên vẫn bị họ chiếm đoạt. Do vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác trong “giao lưu hợp tác, hữu nghị 16 chữ vàng”. Nên nhớ rằng sự xâm lăng có thể thực hiện bằng nhiều con đường. Trước tiên thường là mở đường bằng buôn bán, truyền bá văn hóa rồi đến vũ lực trực tiếp. Một trong những vấn đề nóng hổi hiện nay ở nước ta là dự án khai thác vùng mỏ quặng Bauxite Tây Nguyên. Trong khi mà dự án còn bàn cãi ở Quốc hội và cho đến cuối năm 2009 vẫn chưa được Quốc hội thông qua thì Trung Quốc đã đưa hàng trăm người vào vùng Tây Nguyên chiến lược “mái nhà của ba nước Đông Dương”. Phải chăng đây là đội quân tùy tùng giả dạng theo kế của Triệu Đà cũ. Lạ là một số người lãnh đạo của ta lại cố tình đem xé nhỏ giá trị vốn đầu tư ra thành các tiểu dự án để tránh phải đưa ra Quốc hội thông qua. Một sự lách luật lộ liễu đến thế mà qua mắt được cả một Quốc hội “của dân do dân vì dân” mới là điều kỳ. Người ta hỏi vì động cơ nào mà họ làm được như thế? Liệu có uẩn khúc xấu xa nào của sự liên minh trong ngoài hay không? Ai có thể đảm bảo rằng cuộc hôn nhân kinh tế Bauxite Tây Nguyên không để lại hậu quả như mối tình Mỵ Châu – Trọng Thủy, kể cả khi họ đã trả lại cho chúng ta toàn bộ vùng đất, vùng biển mà họ đang chiếm giữ.
Vào đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp có kể lại rằng, vào lúc đó ông là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách khoa học kỹ thuật, đất nước vừa ra khỏi ba cuộc chiến tranh, lại đang bị thế giới cô lập. Cấm vận kinh tế vô cùng khó khăn, rất cần tiền xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một đề án khai thác Bauxite tại Tây Nguyên đã được đề xuất và nhờ các chuyên gia Liên Xô giúp đỡ. Những người cộng sản Liên Xô lúc đó, không vì món lợi mà họ được hưởng từ đề án ấn tượng này mà vì quyền lợi của chính đất nước chúng ta, họ khuyên ta không nên khai thác, cái lợi kinh tế trước mắt không thể bù đắp lại thảm họa môi trường sẽ xảy ra với cả Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ. Bộ Chính trị và Chính phủ lúc đó đã quyết định không khai thác bauxite Tây Nguyên nữa.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, một nhà chính trị nhà quân sự thiên tài, một đặc đẳng khai quốc công thần, một huyền thoại sống của dân tộc Việt Nam và thời đại đã nhắc nhở các nhà lãnh đạo của chúng ta “không nên khai thác bauxite Tây Nguyên vì đứng về toàn cục và phát triển bền vững, lâu dài của đất nước, khai thác sẽ gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng về môi trường, về xã hội, về an ninh quốc phòng”. Than ôi! Những lời vàng đá này rút ra từ gan ruột của một thiên tài đã sống trọn một thế kỷ vì nước vì dân mà không được tiếp thu.
Thưa Đại tướng! Hiện giờ một nhóm người nào đó chưa hiểu hết được lời răn dạy của Người nhưng cả dân tộc này, trên 80 triệu con người Việt Nam rất hiểu lòng Người, vì dân tộc Việt Nam đã thấm nhuần từ lâu tinh thần “độc lập hay là chết”, đã phải trả giá cho bài học lịch sử từ hơn hai ngàn năm trước của Vua Thục An Dương Vương, thấu hiểu nỗi đau của Bác Hồ khi người chứng kiến sự phản bội của những người Cộng sản anh em. Lẽ nào một kịch bản Cổ Loa lại để xảy ra lần nữa tại Tây Nguyên hay bất cứ nơi nào trên đất nước này.
Không! Thưa Đại tướng, dù khó khăn đến mấy xin Đại tướng không làm theo tướng quân Cao Lỗ ngày xưa chịu bó tay vì bị cách chức rồi sống bàng quan nhìn cả dân tộc mình chìm trong đau thương. Dù khó khăn đến đâu cũng không để cho những quả bom bùn nằm trên Cao Nguyên thường trực đe dọa đất nước. Bài học thông hiếu mù quáng của Thục An Dương Vương đã đưa cả một dân tộc chìm trong ách nô lệ một ngàn năm vẫn còn nóng hổi đó.
Nhiều nhà khoa học và các bậc lão thành cách mạng cùng những tướng lĩnh lỗi lạc đều đã ra sức can ngăn và về phía Tập đoàn TKV, một kẻ như Đoàn Văn Kiển dám đánh lừa dư luận bằng những lời giải trình mỹ miều cuối cùng đã bị lật tẩy và cách chức. Song chẳng hiểu vì sao dự án vẫn được tiến hành với ý rằng không có gì đáng lo, chúng ta đã nhìn thấy tất cả, mọi cái xấu đã và sẽ được ngăn chặn.
Bây giờ chỉ còn cầu Trời khấn Phật mong sao cho mọi sự được yên lành. Tôi lo, không chỉ lo cho hiện tại trước mắt vì môi trường sẽ bị đầu độc bởi bùn đất đỏ lẫn với những hóa chất độc hại dùng trong quá trình khai thác tràn về các sông suối miền Trung và miền Đông Nam Bộ (Người ta hứa sẽ “xử lý triệt để” khối bùn đỏ khổng lồ ấy bằng hai lớp nilon. Đến con trẻ cũng có thể luận ra được đâu là thật và đâu là lời nói dối. Hãy đợi đấy?!).
Tôi lo, lo cho ba mươi năm, năm mươi năm sau (dĩ nhiên là lúc đó nhiều người của thế hệ hôm nay sẽ không còn nữa) con cháu chúng ta sẽ phải lầm than trong cảnh phụ thuộc, mất độc lập tự do.
Lo lắng cho vận mệnh, tương lai của đất nước không phải là quyền của riêng ai. Nhiều cá nhân muốn làm giàu nhanh chóng đã phải trả giá vì trúng phải viên đạn bọc đường. Biết trước được họa để tránh cho thế hệ sau khỏi phải khổ sở vì cha ông sai lầm chẳng phải là việc nên làm của những người nắm giữ vận mệnh dân tộc lúc này hay sao.
Tôi được biết ở nhiều nước châu Phi, Trung Quốc đến khai thác đồng, bauxite và khoáng sản khác gây ra vô số hậu quả và nợ nần cho những nước chủ nhà khiến họ phụ thuộc ngày càng sâu vào Trung Quốc. Ở Việt Nam thì công nghệ xi măng lò đứng, gang thép Thái Nguyên, mỏ đồng sinh quyền… Đang có nhiều vấn đề về công nghệ, môi trường, cũng bị phụ thuộc và nợ nần vào tay họ.
Vấn đề khai thác Bauxite Tây Nguyên là vấn đề lớn, nguy hại đến sinh mệnh của hàng triệu con người ở miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ; đồng thời hàng chục dân tộc thiểu số Tây Nguyên đang bị hăm dọa sẽ hủy diệt, nhưng cái lớn hơn là bọn nước lớn với tư tưởng bành trướng như những kẻ cướp có được chỗ ngồi trên nóc nhà ba nước Đông Dương thường xuyên, nền độc lập của cả ba dân tộc bị uy hiếp thì dân chúng không nơm nớp lo sao được. Thế mà vấn đề này chưa được giải quyết thấu đáo thì vấn đề kia đã phát sinh, khiến những ai tỉnh táo vì vận mệnh đất nước càng như ngồi trên lửa bỏng. Với phát hiện của Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nay lại nẩy ra cái họa 10 tỉnh biên giới bán rừng đầu nguồn cho Trung Quốc. Thử hỏi, đứng về mặt luật pháp, có đạo luật nào cho phép bán đất đai của Tổ quốc không thông qua Quốc hội hay không? Một đất nước cai trị bằng luật và đang cố gắng tiến tới một nhà nước pháp quyền, vậymà mọi thứ đều dẫm lên trên luật thì đất nước ấy còn ra thế nào? Thì ra “mối lo Trọng Thủy” bây giờ không chỉ thu hẹp riêng ở Tây Nguyên nữa mà đã lan ra rất nhiều nơi. Rồi đây, như âm binh của Cao Biền, chẳng ai biết những gì ẩn náu trong các cánh rừng đầu nguồn đã bán kia sẽ nổi dậy và kéo về xuôi, chúng ta còn trở tay sao kịp, và liệu những người cầm chịch đất nước có “ngồi mát ăn bát vàng” được hay không?
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “không có gì quý hơn độc lập tự do”. Đất nước ta nhân dân ta đã phải đổ xương máu của hàng triệu con người để giành giữ, bảo vệ nền độc lập của mình. Quốc hội cần phải xem xét thận trọng và phải cảnh giác, biểu quyết các vấn đề liên quan đến lãnh thổ và an ninh theo ý chí, nguyện vọng của toàn dân Việt Nam yêu nước. Đó cũng là thực hiện và bảo vệ đạo luật về Quốc hội của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Đảng Cộng sản, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, và được thể chế hóa thành luật .
LMA
***
Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa trong bối cảnh ngàn năm Thăng Long, thử đặt lại vài giả thuyếtNguyễn Đăng Hưng
TSKH Nguyễn Đăng Hưng – Giáo sư danh dự thực thụ Trường đại học Liège, Bỉ
Một tiết mục đáng chú ý tại TP HCM trong dịp Tết Canh Dần vừa qua là Lễ kỷ niệm 221 năm chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa do Sở Văn hóa, Thể thao và Du Lịch TP HCM tổ chức tại Công viên Tao Đàn ngày mồng Năm AL (18/2/2010). Buổi lễ đã được tiến hành long trọng với sự tham dự của các ông Lê Thanh Hải, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh, Lê Hoàng Quân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố, đại diện lãnh đạo các sở, ban, ngành, đoàn viên thanh niên cùng đông đảo người dân thành phố và du khách nước ngoài. Ông Dương Quan Hà, Chủ tịch Ủy ban MTTQ TP HCM đã có bài phát biểu đáng được lưu ý. Chương trình sân khấu hóa đã diễn ra sôi nổi với phần biểu diễn nghệ thuật dân tộc đặc sắc của các nghệ sĩ Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang.
Đọc báo tôi cũng thấy một buổi lễ tương tự được tổ chức tại Gò Đống Đa, Hà Nội. Đến tham dự thắp hương trước tượng đài Quang Trung có Phó Bí thư Thành ủy Nguyễn Công Soái, Phó Chủ tịch UBND TP Phí Thái Bình, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, ông Vũ Trọng Kim, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Mặt trận Tổ Quốc. Thành phần và cấp bậc tham gia của Thành ủy và Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội có phần thấp hơn, kém long trọng hơn tại TP HCM.
Việc Thành ủy TP HCM coi trọng ngày kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa hơn Thành ủy Hà Nội là điều làm tôi chú ý! Ngay tại Thủ đô, người [lãnh đạo] Hà Nội cảm nhận lịch sử không bằng người Sài Gòn chăng?
Lẽ ra năm nay, trong dịp lễ hội ngàn năm Thăng Long, lễ hội Gò Đống Đa phải có gì nổi trội hơn thường lệ mới phải chứ?
Thật vậy, nếu không có anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ và chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa thì làm gì Thăng Long còn là của Việt Nam để năm 2010 này chúng ta ăn mừng Thủ đô ngàn năm?
Đừng quên cuộc xâm lăng Đại Việt năm 1788 là cuộc xâm lăng bành trướng cuối cùng của phong kiến Trung Hoa và nếu Nguyện Huệ đã chọn hướng giải quyết khác đi thì lịch sử và địa lý của dân tộc Việt Nam ngày nay sẽ ra sao?
Chính sử Việt Nam ghi lại năm ấy mượn cớ vua Lê Chiêu Thống cầu viện, nhà Thanh đã giao cho Tôn Sỹ Nghị một đạo quân đông đảo gần 30 vạn, ào ạt kéo vào nước ta chiếm đóng Thăng Long. Thế yếu, các tướng Tây Sơn Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm rút về Tam Điệp cố thủ và bảo toàn lực lượng. Trong Nam Nguyễn Ánh đã gia tăng được lực lượng sẵn sàng uy hiếp Qui Nhơn trong lúc Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc lâm trọng bệnh. Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ trên thực tế chỉ kiểm soát được một vùng lãnh thổ khá hẹp từ Thuận Hóa đến Nghệ An, trong tay huy động chưa có được 1/10 so với quân số nhà Thanh đang xâm lược Bắc Hà!
Thử tưởng tượng vì số lượng quân mình thua kém, Nguyễn Huệ quyết định thúc thủ, đành làm ngơ trước đoàn “quân lạ” đang xâm nhập miền Bắc, quá đông, quá hùng hổ, thì cái gì sẽ xẩy ra? Nếu Nguyễn Huệ chỉ nghĩ đến quyền lợi của nhà cầm quyền, chỉ lo đương đầu với Nguyễn Ánh ở Gia Định và Nguyễn Nhạc trong Nam, còn phía Bắc thì thôi, giao lại đất Thanh Hóa Nghệ An trở ra cho nhà Thanh và vua Lê Chiêu Thống, tóm lại chỉ lo mưu cầu chiếc ghế vương quyền tại phương Nam?
Trong tình huống ấy lịch sử và địa lý Việt Nam sau này sẽ ra sao?
Nước ta có lẽ chỉ còn lại từ sông Gianh cho đến Hà Tiên khi người Âu bắt đầu xâm nhập vào Đông Nam Á! Giả thuyết này không phải không có ý nghĩa hiện thực khi ta biết, ngoài Bắc vua Lê Chiêu Thống đã phản bội Tổ quốc, dùng niên hiệu nhà Thanh, mặc nhiên công nhận nền đô hộ của người Tàu. Trong Nam lịch sử còn ghi lại cũng năm 1788, từ Gia Định Nguyễn Ánh đã gửi đoàn thuyền chở gạo ra Bắc chi viện cho quân Thanh mà không thành vì gặp bão. Ông vua sáng lập ra triều đình nhà Nguyễn này có nhiều khả năng cũng sẽ để yên cho nhà Thanh ở đất Bắc sau khi lấy lại giang sơn từ tay nhà Tây Sơn vì chẳng may cho dân tộc Việt, người anh hùng áo vải mất sớm.
Nếu lịch sử đi theo hướng đó thì làm gì ta còn Thăng Long mà tổ chức lễ hội ngàn năm như ngày nay?
May thay, Nguyễn Huệ, được sự trợ giúp tư vấn của tầng lớp sỹ phu chân chính lúc bấy giờ, những Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thiếp, Đoàn Nguyễn Tuấn, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Nễ, Nguyễn Huy Lượng, Bùi Dương Lịch… đã chọn lựa hướng khác, hướng chính danh yêu nước thương dân, hướng bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và độc lập dân tộc. Nguyễn Huệ lập tức lên ngôi Hoàng đế, minh định chính danh, củng cố chính nghĩa dân tộc, theo lẽ trời, thuận lòng người, thống nhất ý chí toàn dân toàn quân, tự mình thống lĩnh thủy bộ đại binh ra Bắc đánh giặc Thanh, chấp nhận lấy một chọi mười:
“Chúng nó sang phen này là mua cái chết đó thôi. Ta ra chuyến này thân coi việc quân đánh giữ, đã định mẹo rồi, đuổi quân Tàu về chẳng qua 10 ngày là xong việc. Nhưng chỉ nghĩ chúng là nước lớn gấp 10 nước ta, sau khi chúng thua một trận rồi, tất chúng lấy làm xấu hổ, lại mưu báo thù, như thế thì đánh nhau mãi không thôi, dân ta hại nhiều, ta sao nỡ thế. Vậy đánh xong trận này, ta phải nhờ Thì Nhậm dùng lời nói cho khéo để đình chỉ việc chiến tranh. Đợi mươi năm nữa, nước ta dưỡng được sức phú cường rồi, thì ta không cần phải sợ chúng nữa.”
Chúng ta biết phần còn lại của lịch sử, số phận của người anh hùng bách chiến bách thắng Quang Trung Nguyễn Huệ.
Sau mồng năm Tết Kỷ Dậu 1789, Ngô Ngọc Du, một nhà thơ đương thời, đã ghi lại không khí tưng bừng của ngày chiến thắng oanh liệt như sau:
“Mây tạnh mù tan trời lại sáng
Đầy thành già trẻ mặt như hoa, Chen vai khoác cánh cùng nhau nói: “Kinh đô vẫn thuộc núi sông ta” Tại buổi họp báo đầu năm nay (6/1/2010) ở Hà Nội, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Trung Quốc tại Việt Nam Tôn Quốc Tường đã thách thức cả dân tộc Việt: “hợp tác [với Trung Quốc] sẽ phát triển, [Việt Nam] đấu tranh sẽ thất bại”, thiết nghĩ việc tổ chức cho thật long trọng Lễ hội Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa là điều nên làm. Thật vậy, hình như ngài Đại sứ quên rằng cách đây 221 năm dân tộc Việt Nam nào có thất bại khi phải bắt buộc chấp nhận hướng đấu tranh dù phải một chống mười!
Sài Gòn mồng Bảy Tết Canh Dần 2010
+++
Quê Hương và Chủ Nghĩa
(Gửi tuổi trẻ Việt Nam) Em hãy ngồi xuống đây Anh kể câu chuyện này Trên cánh đồng cỏ cháy Ngậm ngùi như khói bay Con ngựa già một đời Chưa thấy được ngày vui Mắt mỏi mòn trông đợi Những mầm cỏ xanh tươi. Đã bao nhiêu năm rồi Hướng nhìn về xa xôi Tâm tư đau nhức nhối Cuộc đời vẫn nổi trôi Em nhìn về tương lai Cố dấu tiếng thở dài Mắt dường như ngấn lệ Có phải vì khói cay? Em thấy đó, trên đường đi không đến, Quê hương đau, chồn cáo vẫn nghêng ngang Những con thú người nhảy múa kiêu căng Ngửa mặt hú một bài ca chủ nghiã. Ngôn ngữ văn nô, đỉnh cao trí tuệ, Chủ nghiã dạy em, thù hận hờn căm
Chủ nghiã dạy em, độc ác bất nhân Chủ nghiã dạy em, lọc lừa xảo trá Chủ nghiã dạy em, dối gian trăm ngả Chủ nghiã dạy em, bội phản vong ân Chủ nghiã dạy em, giết chết lương tâm Chủ nghiã dạy em, vô thần đấu tố Chủ nghiã mù, rước voi dày mả Tổ Chủ nghiã ngu, thờ đồ tể ngoại bang Chủ nghiã bưng bô, xây dựng thiên đàng Chủ nghiã lừa em, những con bò sữa Chủ nghiã bất lương, ma cô nhà chứa Chủ nghiã tú bà, dụ dỗ thơ ngây Chủ nghiã cò mồi, vơ vét luôn tay Chủ nghiã cai thầu, bán buôn Tổ-Quốc Chủ nghiã lưỡi câu, móc mồi dân tộc Chủ nghiã bịp lừa, bánh vẽ tự do Chủ nghiã cá ươn, tư tưởng vong nô Chủ nghiã chết đi, Quê Hương vẫn sống Ai nhân danh hạnh phúc Thứ hạnh phúc ngục tù Ai nhân danh dân chủ Thứ dân chủ si ngu Ai nhân danh chân lý Thứ chân lý đui mù Bao nhiêu năm, ai nhân danh chủ nghiã, Tự-Do xích xiềng, Dân-Chủ dối gian Mác-Lênin, đâu phải người Việt Nam! Sự thật đó có làm em đau nhói ? Vẫn chập chờn lượn bay bầy quạ đói Chồn cáo kia có rình rập trước sau Ngẩng mặt cao và đừng sợ đớn đau
Đứng lên em bằng tâm hồn biển động. Em đứng lên như đại dương dậy sóng Tiếng sét thần tuổi trẻ nổ ầm vang Những tượng hình, chủ nghiã, phải tiêu tan Cây Dân-Chủ bừng lên ngàn sức sống, Em bây giờ khôn lớn Mắt rực lửa yêu thương, Biết đâu là sự thật Em tìm thấy con đường. Tự-Do sẽ nở hoa Trên quê hương khốn khó Anh như con ngựa già Vẫn cúi đầu kiên nhẫn Đốt những đám cỏ khô Dọn đường cho em đi làm lịch sử Nguyễn Quốc Chánh Saigon Nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh sinh năm 1958 ở Bạc Liêu, hiện sống tại Sài Gòn. Tác giả của nhiều tập thơ như Ðêm mặt trời mọc, Khí hậu đồ vật và Của căn cước ẩn dụ, và Ê, tao đây. Thơ của ông đã được nhiều tác giả dịch ra tiếng Anh. Trong bài phỏng vấn dành cho nhà văn Vi Ký, nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh nhận xét về đảng Cộng Sản: “Ðảng Cộng sản thắng Tây và Mỹ bằng máu của dân tộc, bằng vũ khí của Nga và Tàu, rồi nộp “độc lập dân tộc” cho cộng sản Tàu và Nga. Ai chỉ ra tình trạng thế chấp và bán đứng đó đều bị cho là phản động. Kẻ phản động có thể gây tai họa cho Ðảng nhưng lại là phúc của dân. Những ai vì Ðảng sẽ kết án kẻ phản động, còn những ai vì con người thì sẽ hoan hô kẻ phản động. Hãy nhớ câu nói lịch sử của ông Nguyễn Văn Thiệu: “Ðừng tin những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn những gì cộng sản làm”.
********
Việt Nam: Hòn Ngọc Viễn Đông. „Phe bảo thủ“. „Phe Cấp tiến“. Phe nào phản động?
Lm. Gioan Baotixita Đinh Xuân Minh (Đức Quốc)
Trong qúa trình giữ nước hiện nay, trước những tay sai phản động bán nước, dân tộc Việt Nam, chia ra ba (03) tập thể khuynh hướng chính trị: Khuynh hướng thành phần thứ nhất là thành phần tôn giáo; Thứ hai là Tập Thể Cộng Đồng Tị Nạn Cộng Sản tại hải ngoại. Thành phần thứ ba là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Nói chung, bất kỳ trong một tập thể nào, đều có nhiều chiều hướng chính trị khác nhau, không nhiều thì ít. Đường lối tư tưởng chính trị khác nhau trong mỗi tập thể xã hội là điều dễ hiểu và tất nhiên phải có. Trong một gia đình nhỏ bé gồm vài ba người, cũng mỗi người mỗi ý, huống chi là một tập thể Tôn giáo, trong tập thể đảng Cộng sản, hay tập thể Cộng đồng người Việt tị nạn Cộng sản cả vài triệu tại hải ngoại. Và trong một mội trường sinh hoạt chính trị dân chủ đa nguyên phải biết tôn trọng mọi dị biệt tôn giáo và chính trị. Điều quan trọng nhất là chiều hướng chính trị cá nhân hay tổ chức đó, có lợi hay có hại cho con người và dân tộc không?
Tập thể nào giữ nước và đấu tranh bảo vệ bờ cõi lãnh thổ? Phong trào nào xây dựng đất nước, bảo vệ người dân thoát khỏi hiểm họa ĐỎ? Phe nào phản động? Phe nào là „bè lũ phản bội“? Xưa kia, trước năm 1975, khi Việt Cộng chưa xâm chiếm miền Nam, thì Sài gòn được gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông. Nay, đứng trước nạn Bắc Thuộc Mới, chúng tôi hình dung: Cả giang sơn Việt Nam đang là Hòn Ngọc Viễn Đông, không riêng gì chỉ riêng Sài Gòn. Việt Nam, Hòn ngọc yêu qúi, đang bị nhiều thế lực tranh dành, hầu lắm lấy chủ quyền buôn bán. Chúng tôi có những nhận xét sau: - Việt Nam không những được coi là „Hòn Ngọc Viễn Đông“, song, còn là „Cục Kim Cương“ của thế giới. - Trước nạn Bắc Thuộc Mới, chúng tôi chỉ còn chia ra hai khuynh hướng rõ rệt: NHÓM BẢO THỦ, và NHÓM CẤP TIẾN, không phân biệt tập thể tôn giáo, không phận biệt người trong nước hay người hải ngoại. Mỗi nhóm có khuynh hướng chính trị đậm nét. Nhóm bảo thủ, là nhóm bán Hòn ngọc viễn đông cho Tầu Cộng; Nhóm cấp tiến thì cố bảo vệ giữ gìn Hòn Ngọc Viên Đông. Hai nhóm đang tranh giành, tranh đua với nhau để bán hay giữ nước.
A: NHÓM BẢO THỦ: Trong nhóm BẢO THỦ, chia ra làm ba (03) thành phần: a)- Thành phẩn thứ nhất là thành hần bán Hòn Ngọc Viễn Đông, để cầu vinh, bảo vệ địa vị. Trong thành phần thứ nhất này, đa số là những phần tử chúp bu của chế độ Việt Cộng đương thời. Họ ham thích „bán ngọc“, buôn kim cương làm giầu. Tham vọng địa vị giầu sang của nhóm này là một sự cám dỗ rất lớn, khó tránh khỏi. Nhóm chóp bu này sẽ tìm mọi cách bán „NGỌC“, còn hơn là chịu bỏ tham vọng này. Tuy nhiên, thành phần này không đông. Ước chừng có lẽ trên vài trăm tay. b)- Thành phần thứ hai, trong nhóm bảo thủ, là thành phần a dua để mong hưởng chút địa vị danh vọng. Đa số trong thành phần này, có thể tạm gọi được là thành phần trí thức. Một số ít nằm tại hải ngoại. Nhưng thật ra thì họ không phải là trí thức, mà là trí ngủ thì đúng hơn. Họ đang nằm mộng, nằm mơ và ngáy ngủ. Mộng kiếm chút „chân ghế“, tìm chỗ an nhàn khi về hưu, chắc chắn sẽ tan nhanh thành mây khói. Vì đây chỉ là những giấc mơ không tưởng. Thành phần này cũng không đông. c)- Thành phần thứ ba trong nhóm bảo thủ là thành phần bán rẻ lương tâm, kiếm lương tháng. Đó là những thành phần tay bồi bút, những kẻ nịnh bợ kiếm chút cháo. Thành phần này có lẽ khá đông. Tuy nhiên, họ làm ăn có tính cách xu thời. Cái gì có lợi trước mắt là họ làm. Họ như người Robô, máy không đầu. Trong thành phần này, gồm có thành phần côn đồ, và thành phần xã hội đen. Nói chung thành phần thứ ba, chỉ là thành phần tôi mọi, phục vụ cho guồng máy Việt Cộng ĐEN-ĐỎ, để sống qua ngày. Thành phần này có thể bị coi là thành phần cò vơ cò vấp, thành phần thất học vô loài vô giáo dục.
A: NHÓM CẤP TIẾN „NHÓM CẤP TIẾN“ là nhóm muốn bảo vệ chủ quyền. Nhóm này, cương quyết không chịu nhượng và bán „hòn ngọc Viễn Đông“ cho ngoại bang. Nhóm Cấp tiến muốn thiết lập thể chế dân chủ pháp trị đa nguyên, chống độc tài. Họ bảo vệ mọi quyền tự do con người. Họ bênh vực nhân phẩm con người. Họ muốn xây dựng đất nước hùng cường giầu mạnh trong tinh thần công bằng bác ái. Họ theo đuổi lý tưởng là tạo Tự Do hạnh phúc no ấm cho mọi người. Họ luôn quan tâm đến hạnh phúc của người khác, bất kể họ theo tôn giáo, khuynh hướng chính trị nào.
Vào trung tuần tháng 2/2010 vừa qua, nhiều nhà phân tích quốc tế đã có những nhận định về tình hình Việt Nam. Hãng thông tấn AFP đã đúc kết thành một bản tin và truyền thông Việt ngữ đua nhau chạy tin với những nhan đề: “Phe bảo thủ Việt Nam đang ‘áp đảo’”; “Phe bảo thủ ở Việt Nam tìm cách gia tăng tầm ảnh hưởng”; “Xu hướng bảo thủ đang lấn lướt tại Việt Nam trước Đại Hội Đảng”. (Dựa theo tài liệu của Vũ Đông Hà). Qua sự kiện đất nước đang rơi vào tay Trung Cộng, cái gọi là phe bảo thủ hay xu hướng bảo thủ trong hàng ngũ, có lẽ đang nắm ưu thế trong Trung Ương đảng Việt Cộng chăng?
Theo Vũ Đông Hà, thì Bảo thủ là duy trì cái cũ sẵn có, bám chặt vào niềm tin và truyền thống và không chấp nhận những thay đổi vượt ra ngoài niềm tin và truyền thống đó, tin tưởng vào cái chủ nghĩa Cộng sản vô địch. Đối với nhóm bảo thủ, niềm tin là chủ thuyết cộng sản, truyền thống là đấu tranh giai cấp. Nhưng ở đây, chúng tôi muốn nói: phe BẢO THỦ là gồm những „đồng chí“ đeo đuổi niềm tin và truyền thống bán nước hại dân, phản bội dân tộc, làm tay sai cho ngoại bang, từ đời cổ lai hi. Đó là những tay, chúng tôi gọi là phe BẢO THỦ.
Theo Vũ Đông Hà, nhóm này bảo thủ là đã “LỠ” ba lần: a/- LỠ lần thứ nhất làm mất toi 720 km2, 11 ngàn km2 lãnh hải lẫn Ải Nam Quan và thác Bản Giốc. b/- “Lỡ” một lần chưa yên ắng, chưa làm ai tin được luận điệu phải khéo léo ngoại giao với đại gia Trung Quốc, thì các phe bảo thủ lại lỡ thêm lần hai. „Các đồng chí bảo thủ“ nhắm mắt ký với đồng chí anh em môi hở răng lạnh, rước các ngài vào đào mỏ bauxite, xả rác ô nhiễm môi trường cho nhiều đời Việt Nam. c/- “Lỡ” lần hai chưa kịp vẽ bùa dựng lại tư thế “đảng yêu nước, đảng vì dân tộc” đã bị sụp đổ cái rầm thì các đồng chí bảo thủ trong đảng Cộng sản Việt Nam lại “lỡ” thêm lần thứ ba: Gần 300 ngàn ha rừng Đầu Nguồn, trong đó có 264 ngàn ha thuộc 10 tỉnh biên giới xung yếu đã được cắt đất cho người Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan thuê trong thời hạn 50 năm. Cái lỡ làng bị thổ phỉ khai thác này đã dẫn đến nguy cơ an ninh quốc phòng, môi trường và thảm họa lũ bùn. Hình thức „thuê mượn“ chỉ là hình thức trá hình bán rừng buôn đất mà thôi! d/- Ba cái lỡ lầm kể trên, đối với chúng tôi, chỉ là kết qủa của khuynh hướng bảo thủ phản động đã lâu trong lòng đảng Cộng Sản Việt Nam, vì ngày 14/09/1959, Phạm Văn Đồng, gọi là thủ tướng Việt Cộng, đã lỡ nhẹ dạ „bút sa gà chết“, ký văn bản, bán hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Tầu Cộng.
Rõ rành rành: Nhóm bảo thủ đã bán Hòn Ngọc Viễn Đông. Họ là tay sai vì bám gấu váy đại thương gia Trung Cộng để giữ quyền và giành dựt ngai vàng của nhau. Nhóm bảo thủ là thành phần phản bội dân tộc, làm tay sai Hán Cộng. Phải làm tay sai, vì đi ngược lại thì sẽ bị nghiền nát bởi tập đoàn tay sai có hệ thống. Nên thôi đành phận tay sai. Bất kỳ ai, người quốc gia hay Cộng Sản, ngoài đảng lẫn trong đảng, cựu đảng viên hay đang là đảng viên tại chức, nếu phơi trần thân thể ghẻ lở của phe Bảo Thủ, thì các „đồng chí“ này ra tay trấn áp, bắt giam, kết án, bỏ tù dưới sự chỉ bảo của đại thương gia phương Bắc. (Dựa theo Vũ Đông Hà)
Gìn giữ bảo vệ tổ quốc là trách nhiệm chung của mọi con dân Việt Nam, không phân biệt tôn giáo, đảng phái chính trị, trong nước hay hải ngoại. Hán hóa là một đại họa cho dân tộc. Đây là trận chiến của những con người Việt Nam với nhau giữa hai khuynh hướng tự do dân chủ và độc tài toàn trị, giữa BẢO THỦ và CẤP TIẾN. Như vậy, trong lòng dân tộc chia ra làm hai khuynh hướng rõ rệt: Một nhóm lo bảo vệ hòn ngọc, khỏi bị bán. Nhóm khác, thì dùng mọi thủ đoạn gian manh, với âm mưu dã man, bán hòn ngọc.
Bạn là ai? Quốc gia, Cộng Sản? Phật Giáo, Công Giáo, Cao Đài Hòa hảo, Tin lành, Thống Giáo? Bạn theo nhóm nào? „Bảo thủ“ hay „Cấp tiến“? Hành động bán „hòn ngọc“ là gian ác. Như vậy, nhóm „bảo thủ„ là mhóm TÀ. „Nhóm cấp tiến“ bảo vệ hòn ngọc là nhóm CHÁNH. Công việc đấu tranh gìn giữ bờ cõi bảo vệ tổ quốc là những việc làm thiện, hành động tốt lành. Nó đòi hỏi nhiều kiên nhẫn, can đảm và nhiều sự hy sinh.
Trong lòng dân tộc chia ra hai phe: Phe ngụy gian ác và phe tốt lành; phe trục ÁC và phe trục THIỆN; phe phản bội dân tộc và phe trung thành dân tộc. Hai phe này đang tranh giành ảnh hưởng đến việc bán hay giữ „hòn ngọc Viễn Đông!“.
Trong mọi tôn giáo, đều có hai khuynh hướng này. Họ chủ trương cho rằng, tiếp tay với nhóm „bảo thủ“, để mong xây nhà thờ, dựng chùa, chẩn hưng giáo hội. Bất cứ tổ chức hay hội đoàn nào, dù đó là hội đoàn tôn giáo, nếu đứng về phía bảo thủ , là theo phe „trục ác“. Trực tiếp hay gián tiếp làm tay sai cho nhóm bảo thủ, đều là thành phần phản bội dân tộc. Họ theo xu hướng „bảo thủ“.
Không những trong tôn giáo, mà ngay cả trong lòng đảng Cộng Sản, cũng phân chia ra làm hai cánh: Cánh muốn giữ hòn ngọc cho dân tộc, và cánh muốn bán cho ngoại bang. Cánh bảo vệ hòn ngọc được gọi là những người Cộng Sản cảnh tỉnh.
Ví Dụ: Gỉa như bạn đang cầm trong tay hòn bi, tượng trưng cho đất nước Việt Nam là „Hòn Ngọc Viễn Đông“. Bạn cứ tưởng tượng hòn bi là hòn ngọc qúi báu, biểu tượng cho nước Việt Nam đang nằm trong tay bạn. Bạn muốn bán cho ngoại bang, hay muốn gìn giữ bảo vệ nó? Bạn theo nhóm nào? Nhóm bảo thủ, hay nhóm cấp tiến? Theo nhóm trung thành với dân tộc hay theo nhóm phản bội dân tộc? Bán hòn ngọc, hay giữ hòn ngọc?! Nếu bạn quyết tâm giữ „hòn ngọc Viễn Đông“, thì bạn phải có những hành động cụ thể chống lại phe „bảo thủ“, phe phản bội dân tộc!
Hành động cụ thể: Tất cả những ai có khuynh hướng „cấp tiến“ cần có những việc làm sau: Tập hợp mọi thành phần có tư tưởng, khuynh hướng ủng hộ nhóm „Cấp tiến“: nhóm bảo vệ hòn ngọc. Hình thành những nhóm cấp tiến nhỏ, trong giáo hội, trong lòng đảng Cộng Sản Việt Nam. Trong Bộ Đội Nhân Dân hay Công An cũng quy tụ những „đồng chí“ có khuynh hướng „cấp tiến“, kết tụ lại thành những lực lượng bảo vệ tổ quốc. Liên kết mọi tổ chức tôn giáo, từ trong ra ngoài. Phân chia hai phe rõ rệt: Phe làm tay sai Hán Cộng bán „hòn ngọc Viễn Đông“, và phe bảo vệ hòn ngọc. Cần tránh xa nhóm bảo thủ gian ác! Không chịu làm tay sai, và cộng tác cho phe „bảo thủ“! Ủng hộ nhóm cấp tiến, xây dựng nhân sự nồng cốt, nhằm chuyển hóa guồng máy chính trị dân chủ tự do, phi nhóm bảo thủ, -thành phần phản bội dân tộc-. Nhóm cấp tiến hãy vận động tìm mọi hỗ trợ và ủng hộ của quốc tế. Chắc chắn quốc tế sẽ dành những ưu đãi đặc biệt. Quốc tế: Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ, những nước dân chủ trên thế giới, chắc chắn họ sẽ ủng hộ phe „Cấp tiến“. Tinh thần đấu tranh đòi hỏi Công Lý và Hòa Bình. Làm chứng cho sự thật, bênh vực cho lẽ phải, và dấn thân cho sự Công bằng, đã sẵng sàng đứng về phía „Cấp tiến“. Song song đó, với những phong trào Hiệp thông thắp nến, đọc kinh, và ca hát. Đây là những phong trào bảo vệ giang sơn tổ quốc rõ nét.
Kết luận: Mọi người chúng ta, dù bạn là quốc gia hay Cộng sản, Bộ đội hay Công an, Tu sĩ, cư sĩ hay giáo dân, trong nước hay hải ngoại, đều có hai lựa chọn: Một là bán hòn ngọc cho ngoại bang, làm tay sai cho Hán Cộng và để chịu diệt vong. Hai là giữ bản chất con người Việt, tinh thần Việt và linh hồn người Việt. Muốn quyết tâm bảo vệ „hòn ngọc Viễn Đông“ không rơi vào tay Hán Ngụy Cộng, chúng ta phải giải thể nhóm BẢO THỦ trong lòng dân tộc!
Mỗi người dân, không phân biệt tôn giáo, phải có tránh nhiệm, bảo vệ hòn ngọc, và phải có lập trường trong sáng dứt khoát. Bán hay giữ hòn ngọc?! Chỉ có một sự chọn lựa: Trung thành với dân tộc hay phản bội dân tộc!
Thiên Đàng hỏa ngục hai bên, ai khôn thì hãy theo nhóm giữ hòn ngọc. Ai dại theo nhóm bán nước, phản bội dân tộc.
Hỡi dân tộc Việt Nam, hãy tỉnh thức! Con rồng cháu Tiên, Đồng bào, cùng một bào thai, không được phép phản bội nhau!
Cầu chúc, Năm thánh là Năm đại Hồng Phúc cho dân tộc Việt Nam chúng ta, thoát được hiểm họa bị đồng hóa và thoát được ách ác thần và tà thần bảo thủ Cộng Sản Việt Nam. Nguyện xin cầu chúc cho dân tộc Việt Nam chúng ta!
(Frankfurt, thứ tư ngày 24/02/2010)
|
