Diễn Đàn - Độc Giả
  

QUẢN TRỊ VÀ ĐƯỜNG LỐI CHÍNH TRỊ QUỐC GIA.

 

                                                                                                                                                      NGUYỄN HỌC TẬP

  1 - Động tác quản trị.

Để hiểu được các phận vụ của Chính Quyền ( Hành Pháp ) trong các tổ chức Quốc Gia, chúng ta cần biết rằng vị lãnh đạo Chính Quyền ( Tổng Thống hay Thủ Tướng, tùy theo phương thức Tổng Thống Chế hay Đại Nghị Chế) và các Bộ Trưởng,  đều có hai chiếc áo khoát: chiếc áo địa vị là một cơ quan trong hệ thống tổ chức cơ chế Quốc Gia,

   - như là người đứng đầu lãnh đạo các viên chức thuộc hệ của cơ quan trực thuộc,

   - và như là một  cơ quan của Chính Quyền, cá nhân chịu trách nhiệm hay cùng hợp tác với các cơ quan khác, thực hiện đường lối chính trị Quốc Gia.

Dĩ nhiên hai phận vụ vừa kể của vị Lãnh Đạo ( Tổng Thống hay Thủ Tướng), cũng như của các Bộ Trưởng với Bộ trực thuộc thẩm quyền mình, không phải chỉ là những nhân vật tự lập và biệt lập, không tùy thuộc vào ai khác.Trái lại, mặc dầu mỗi nhân vật và cơ quan trực thuộc tự lập hoạt động trong lãnh vực cá biệt của mình, nhưng mật thiết liên quan với các nhân vật và cơ quan khác, bởi vì Thủ Tướng cũng như các Bộ đều thực hiện đường lối quản trị " theo đường lối chính trị chung " đã được thiết định của Quốc Gia, như những gì đã được Hiến Pháp ra chỉ thị ở điều 95 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc:

   - " Vị Thủ Tướng của Hội Đồng Nội Các hướng dẫn đường lối chính trị chung của Chính Quyền và chịu trách nhiệm. Giữ vững sự thống nhứt đường lối chính trị , bằng cách phát huy và phối hợp hoạt động của các Bộ Trưởng ".

    " Các Bộ Trưởng chịu trách nhiệm tập thể về các động tác của Hội Đồng Nội Các, và trách nhiệm cá nhân về các hoạt động các Bộ liên hệ của mình " ( Điều 95, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc ).

Trong ý nghĩa vừa tập thể, vừa cá nhân đó của phận vụ quản trị đất nước, Chính Quyền thực hiện phận vụ và trách nhiệm của mình qua

   - các cơ quan trung ương ( tức các Bộ )

   - và nhiều cơ quan ngoại vị  ( thường các đơn vị ngoại vi được tổ chức theo cấp bậc Tỉnh ).

Phận vụ quản trị ngoại vi ở cấp địa phương mà hàng ngày người dân đều có cơ hội liên hệ, ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm:

   - để được cấp giấy chứng nhận, giấy cho phép về một vấn đề, một nhu cầu nào đó (chấp nhận dự án xây cất nhà cửa, thẻ căn cước, chứng minh thư được giảm thuế, giấy chứng nhận đã được số tiền mà chúng ta phải đáp ứng, chứng nhận con cháu chúng ta có quyền ghi danh vào các học viện địa phương, chứng nhận nhà cửa, cơ sở, đất đai đã được ghi vào danh sách hồ sơ quyền sở hữu của Tỉnh hay quận...).

   - còn nữa, hoạt động quản trị của Chính Quyền địa phương có thể can thiệp vào lãnh vực pháp luật đối với người dân, như trưng thu đất đai hay cơ sở vì lợi ích công cộng, sau khi được cơ quan tư pháp,  tham khảo ý kiến của các cơ quan kinh tế, tài chánh,  xác định số tiền cơ quan công quyền phải bồi thường tương xứng;

   - cơ quan công quyền, với án trác có lý chứng của tư pháp và theo thể thức và trong các trường hợp luật định, có thể cầm giữ người dân ( Điều 13, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) ;

   - cơ quan công quyền có thể đòi buộc người dân phải trả thuế hay tiền phạt, gởi thư đòi đương sự phải trình diện để thi hành quân dịch ( Điều 52 và 53, id.) ;

   - cơ quan công quyền ( cảnh sát, hiến binh, thành viên của ty vệ sinh ) có quyền kiểm soát, truất hữu, trưng thu các thức ăn được biến chế không hợp tiêu chuẩn vệ sinh, chứa chât độc có thể gây bệnh hoạn cho người tiêu thụ, giả mạo nhản hiệu được dân chúng tín nhiệm ( Điều 41, đoạn 2 hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

   - cơ quan công quyền có thể kiểm soát, trưng thu báo chí, phim ảnh, chương trình truyền thanh-truyền hình trái với thuần phong mỹ tục, nhằm bảo vệ tuổi thơ và con người trong danh dự của mình ( Điều 5, đoạn 2 Hiến Phap 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).( T. Martines, Diritto Costituzionale, IX ed., Giuffré, Milano 1998, p. 460).

 

Ngoài ra những công việc hành chánh thường ngày như vừa kể, chúng ta cũng cần đề cập đến những phận vụ " quản trị hành chánh cao đẳng " , nằm sát ranh giới giữa công việc thường nhật như vừa kể với đường lối chính trị Quốc Gia ( hay chương trình định hướng nhằm điều hành Quốc Gia trong nhiệm kỳ, mà Chính Quyền nhằm hướng dẫn tổ chức Quôc Gia phải đạt được).

Giữa những động tác cao đẳng của nền hành chánh quản trị Quốc Gia chúng ta cần kể đến

   - những phận vụ cao cấp thuộc các hệ thống  cấp bậc Quốc Gia,

   - các chức vụ cao cấp trong các cơ quan Chính Quyền

   - và các chức vụ trong các bộ phận quản trị đặc biệt,

   - các nghị định tuyên bố tình trạng khẩn cấp và nguy ngập đối với Quốc Gia,

   - các nghị định được soạn thảo để dự trù các thoả ước quốc tế về các lãnh vực chính trị và quân sự,

   - các thoả ước tương quan với các tổ chức tôn giáo,

   - các đề nghị nhằm liên lạc, kết hợp và cộng tác với các Hội Đồng Vùng ( Ý Quốc ) hay với các Tiểu Bang ( Cộng Hoà Liên Bang Đức).

Các động tác vừa kể thường thỉ được Hội Đồng Nội Các đồng thuận thiết định và được nghị định của Tổng Thống Cộng Hoà ban hành, sau khi duyệt xét tính cách hợp hiến hay vi   ( Art. 2, comma 3, L. n. 400 del 1988 ).

 

2 - Đường lối chính trị Quốc Gia.

Đương lối chính trị Quốc Gia có thể được hình thành bằng ba thời kỳ:

   - thời kỳ thứ nhứt là thời kỳ nhằm thiết định mục đích ( téléologique) mà Chính Quyền nhằm thực hiện cho Quốc Gia trong nhiệm kỳ hiến định của mình ( thông thường thì trong thời gian 4 hay 5 năm gì đó),

   - bước tiến thứ hai là thiết định những phương thức và dụng cụ phải có để nhằm đạt được mục đích. Trong thời gian nầy, đường lối chính trị Quốc Gia - sau khi các mục đích đã được thiết định nhằm đạt được - tổ chức Chính Quyền sẽ thiết định các cơ quan tổ chức và các phương tiện vật chất cần thiết ( hoặc dùng lại những dụng cụ đã có sẵn từ trước, lực lượng và quân dụng quân đội, cảnh sát, hiến binh, nhân viên dân sự hay tài chánh đã có sẵn trong ngân sách chẳng hạn, để đem ra áp dụng nhằm đạt được mục đích hợp  pháp theo ý muốn đã được dự tính,

   - giai đoạn thứ ba là giai đoạn thực hành, được thể hiện bằng hành động, để các mục đích đã được dự tính theo chương trình được trở thành hiện thực.

Trong ba giai đoạn của tiến trình vừa kể Chính Quyền và Quốc Hội đều tham dự vào, liên hệ mật thiết với nhau.

Chính Quyền là tiếng nói, nói lên ước vọng của thành phần đa số dân chúng trong Quốc Gia ( qua các chính đảng ), là cơ quan theo Hiến Pháp, cùng chung với Quốc Hội, được ủy thác cho phận vụ hướng dẫn đường lối chính trị Quốc Gia.

Chính Quyền  là cơ quan được Hiến Pháp ủy nhiệm cho trách nhiệm tập thể thiết định đường lối chính trị chung của Chính Quyền và tác động để nhằm đạt được các mục đích đã được dự thảo trong chương trình. Dĩ nhiên ngoài ra Chính Quyền có phân vụ thực hiện để đạt được mục đích, còn có bổn phận đưa ra những phương thức thực hiện đường lối chính trị mà Chính Quyền đã trình diện trước Quốc Hội và được Quốc Hội chấp nhận trong ngày nhậm chức:

   - " Chính quyền phải được sự tín nhiệm của Lưỡng Viện Quốc Hội ".

     " Trong vòng mười ngày, sau khi được thành lập, Chính Quyền phải đến trình diện trước Lưỡng Viện Quốc Hội để được tín nhiệm " ( Điều 94, đoạn 1 và 3 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

 

Tuy vậy, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đang bàn, dành cho vị Thủ Tướng một địa vị thượng đẳng trong việc lãnh đạo đường lối chính trị Quốc Gia ( A.A. VV.; Costituzione e struttura del Governo, Cedam, Padova 1979).

Và đó cũng là những gì điều 95 của Hiến Pháp xác định:

   - " Thủ Tướng Chính Phủ hướng dẫn đường lối chính trị chung của Chính Quyền và chịu trách nhiệm. Giữ vững hợp nhứt đường lối chính trị và quản trị, bằng cách phát huy và phối hợp động tác các Bộ Trưởng " ( Điều 95, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

Câu tuyên bố vừa kể cho thấy là

   - phận vụ hướng dẫn đường lối chính trị Quốc Gia không gồm cả một mình quyền thiết định,

   - bởi lẽ đường lối chính trị Quốc Gia được Hiến Pháp giao cho cả Hội Đồng Nội Các, chớ không phải chỉ có Thủ Tướng độc tài thiết định một mình. Việc xác định phải bàn thảo và hợp tác với ý kiến chung của các Bộ Trưởng. Hay nói các rộng hơn là, đường lối chính trị Quốc Gia trong Quốc Gia Dân Chủ phải là đường lối được xác định bởi việc thu nhận, cắt xén, sửa đổi, tăng cường thêm cho dồi dào bởi ý kiến các chính đảng, hay ý kiến của dân chúng. Bởi lẽ các Bộ Trưởng trong Chính Quyền là những người đại diện của các chính đảng và nói một cách rộng rãi hơn là đại diện cho ý kiến của nhiều thành phần dân chúng  :

   - "  Các Bộ Trưởng có trách nhiệm tập thể về các động tác của Hội Đồng Nội Các và trách nhiệm cá nhân về những việc làm của Bộ liên hệ của mình " ( Điều 95, đoạn 2, id.).

Và cũng trong chiều hướng đó, đạo luật ( art. 5, của đạo luật L. 400 năm 1988) xác định vai trò của Thủ Tướng là vai trò lãnh đạo, hướng dẫn tiến trình hình thành công cuộc thực hiện đường lối chính trị Quốc Gia, bảo đảm cho chương trình đã được Chính Quyền tường trình và cam kết với Quốc Hội Lưỡng Viện phải được thực hiện và thực hiện một cách hợp nhứt, nếu Chính Quyền muốn được Quốc Hội tiếp tục tín nhiệm:

   - " Chính Quyền phải được sự tín nhiệm của cả hai Viện Quốc Hội " ( Điều 94, đoạn 1, id.).

   - " Thủ Tướng Chính Phủ và các Bộ Trưởng sẽ bị Quốc Hội tố giác về những tội trạng vi phạm trong khi hành xử quyền hạn của mình " ( Điều 96, id.).

Như vây, Hiến Pháp giao cho Thủ Tướng quyền hướng

   - dẫn đường lối chính trị đã được thiết định,

   - cũng như tiến trình quản trị hành chánh, để thục hiện những gì Hội Đồng Nội Các đã hội thảo, thông qua và quyết định ( art. 5, op. cit.),

   - ngoài ra phận vụ hướng dẫn đường lối chính trị chung của Chính Quyền,

   - tạm ngưng hay loại bỏ các hoạt động của Bộ Trưởng liên quan đến đường lối chính trị và quản trị hành chánh, bằng cách đặt vấn đề phải duyệt xét lại đối với Hội Đồng Nội Các trong phiên họp kế tiếp.

Với phận vụ trổi thượng của Thủ Tướng Chính Phủ như vừa nói trong vai trò hướng dẫn, thúc đẩy và phối hợp hoạt động các Bộ Trưởng, ông được hiểu ngầm là người chịu trách nhiệm chính trị trước Quốc Hội về đường lối chính trị Quốc Gia mà ông và Nội Các của ông đã tuyên hứa phải thực hiện đúng đắn với Quốc Hội lúc Chính Quyền được thành lập.

Và dĩ nhiên bên cạnh trách nhiệm nổi bậc của Thủ Tướng Chính Phủ, chúng ta cũng có trách nhiệm " tập thể " và " cá nhân " của các Bộ Trưởng như những gì Hiến Pháp đã quy trách ở điều 95, đoạn 2, mà chúng ta đã trích dẫn ở trên.

Nêu lên trách nhiệm của Thủ Tướng Chính Phủ và các Bộ Trưởng như vừa kể là chúng ta nêu lên dựa vào nguyên tắc hình thức tổ chức Quốc Gia Đại nghị Chế.

 

3 - Khuyết điểm của dân chủ đa nguyên.

Nói đến đây, chúng ta cần lưu ý rằng

   - nguyên tắc tập thể quyết định đường lối chính trị Quốc Gia, nhứt là  áp dụng vào thực tế,

   - quyết định về các hoạt động quản trị của Chính Quyền,

đặc tính tập thể đó nhiều khi ( chớ không phải ít khi xảy ra ) không được tôn trọng,

Ai trong chúng ta cũng biết trong tổ chức Quốc Gia Dân Chủ Đa Nguyên ít khi mà Hội Đồng Nội Các Chính Phủ ( Thủ Tướng và các Bộ Trưởng ) có được sự đồng thuận đồng nhất để quyết định giải quyết vấn đề.

Nên nhớ rằng Vị Thủ Tướng đặc trách ( do Tổng Thống ủy thác) thành lập Nội Các Chính Phủ, nói một cách nào đó, bị lệ thuộc vào quyết định của các chính đảng để lựa chọn và kết hợp các Bộ Trưởng thành Hội Đồng Nội Các:

   - " Tổng Thống Cộng Hoà bổ nhiệm Thủ Tướng và, theo lời đề nghị của Thủ Tướng, bổ nhiệm các Bộ Trưởng " ( Điều 92, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

Còn nữa, một khi đã là thành phần của Hội Đồng Nội Các Chính Phủ, các Bộ Trưởng

   - không phải ít khi có khuynh hướng bất tuân những chỉ thị của Thủ Tướng giao cho nhằm " định hướng, phát huy và phối hợp" các hoạt động của Chính Quyền ( Điều 95, đoạn 1, id.), 

   - trái lại các ông nhiều lúc tìm cách lách léo để làm theo đường hướng riêng, không hẵn luôn luôn phù hợp với chỉ thị trong tinh thần đường lối chính trị chung của Chính Phủ, nhằm thực hiện đường lối chính trị Quốc Gia mà Chính Quyền đã đề xướng và thiết định chương trình thực hiện môt cách hữu hiệu trước Lưỡng Viện Quốc Hội.

Tình trạng vừa kể rất thưòng xảy ra, nhứt là đối với một Chính Quyền yếu, một Chính Quyền mà lằn mức phân định giữa đa số và thiểu số đối lập không được xác định khá rõ rệt ( T. Martines, op. cit., p. 463).

   - Trong hoàn cảnh vừa kể, không phải là Thủ Tướng và Hội Đồng Nội Các không có các phương thức bắt buộc đối với các Bộ Trưởng " phá rào " phải tuân theo để thực hiện đường lồi chính trị và quản trị Quốc Gia đã được tiên liệu và tuyên hứa với Quốc Hội, nhưng các phương thức đó không thể được áp dụng một cách thẳng tay mạnh mẽ đối với kẻ ương ngạnh, nếu Chính Quyền không muốn bị mất đi sức mạnh của các chính đảng, dù nhỏ hay lớn, đang giúp mình có được những bước đi " khập khiểng", có thể bị té bất cứ lúc nào , nếu chính đảng bất đồng ý kiến, " cơm không lành, canh không ngọt ", có thể tuyên bố " ly thân hay ly dị ".

   - Còn nữa, chúng ta cũng cần nên chú ý đến nền hành chánh " lấy có, lấy rồi ", các viên chức thường bận lo việc riêng tư, lo cho vợ con, bạn bè, ân nhân, " cấp trên ", thường vắng mặt ở địa sở,  hơn là lo cho dân chúng đang phải " sắp hàng dài thườn thượt " để được cấp giấy chứng nhận, thị thực một vài mẫu đơn.

   - Ngoài ra cũng còn những nhóm có áp lực, công đoàn lao động, hiệp hội kỷ nghệ, thương mại, tài chánh, nghề nghiệp...cũng ảnh hưởng không nhỏ đối với việc thực thi chương trình quản trị hành chánh và đường lối chính trị Quốc Gia.

Áp lực của họ nhằm đạt đưọc lợi ích của phe nhóm, hơn là lợi ích chung cho Quốc Gia.

Dĩ nhiên dối với tình trạng không hiệu lực và hiệu năng của nền hành chánh quản trị đất nước, Quốc Hội có thể thiết lập Ủy Ban Điều Tra để duyệt xét và nếu cần có quyền triệu tập Chính Quyền phải đến tường trình về đường lối và kết quả hành động của mình:

   - " Mỗi Viện Quốc Hội đều có quyền thành lập Ủy Ban Điều Tra về những vấn đề liên quan đến công ích".

     " Để nhằm mục đích đó, giữa các thành viên của Viện, một Ủy Ban Điều Tra được thiết lập thế nào để phản ảnh lại tỷ lệ của các nhóm dân biểu trong Viện. Ủy Ban Điều Tra thực hiện các cuộc thu góp tài liệu và duyệt xét có các thẩm quyền và giới hạn như thẩm quyền của cơ quan tư pháp " ( Điều 82, đoạn 1 và 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

( Rossi G., Enti pubblici associati. Aspetti del rapporto tra gruppi sociali e pubblico potere, Napoli 1979, p. 98s).

Chúng tôi vừa đề cập đến tác động quản trị, đường lối chính trị Quốc Gia và những khuyết điểm thường gặp trong một Quốc Gia Dân Chủ Đa Nguyên.

Như vậy " Dân Chủ Đa Nguyên " có phải là cách tổ chức Quốc Gia đầy " thối nát và khuyết điểm " không tốt đẹp gì, mà chúng ta có thể mơ ước cho tổ chức trong tương lai, một khi ý thức hệ và chế độ " độc tài đảng trị " không còn nữa không?

Hy vọng trong những lần tới, chúng tôi có dịp trở lại để bàn về những phương thức chấn hưng, chỉnh đốn đem lại tốt đẹp cho phương thức tổ chức   " Dân Chủ Đa Nguyên ".

" Dân Chủ Đa Nguyên " có những khuyết điểm của nó, không tránh khỏi.

Nhưng không có " Dân Chủ Đa Nguyên ", chúng ta phải " cúi đầu mọp lưng ", kể cả con người bị tha hoá như súc vật, dưới chế " Độc Đảng ", độc tài đảng trị, mà ai là người Việt cũng cảm thấy ê chề, thảm trạng cho đồng bào mình đang gánh chịu.

Tại sao người dân các Quốc Gia Tây Phương có được cuộc sống ấm no, đầy đủ, con người được tôn trọng, người dân Việt Nam chúng ta không?

Tại vì người dân Tây Phương  tổ chức Quốc Gia của họ theo " Dân chủ Đa Nguyên ".

Nhưng dù sao đi nữa, muốn có " Dân Chủ Đa Nguyên", trước hét chúng ta phải có " Dân Chủ ":

-         " Các chính đảng có mục đích hay cách hành xử của các thành viên thuộc hệ, nhằm phá hủy hoặc loại trừ định chế nền tảng dân chủ tự do hay hăm dọa sự tồn vong của Cộng Hoà Liên Bang Đức, là những chính đảng vi hiến " ( Điều 21, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).

 

Quý vị có thể tìm đọc toàn bộ Tài Liệu về Hiến Pháp của Giáo Sư Nguyễn Học Tập tại: 
http://www.thegioin guoiviet. net/forumdisplay .php?f=69

NGUY CƠ CỦA THÁI ĐỘ DO DỰ
 
 
Ngoại Trưởng Clinton và Tổng Thống Obama tiếp tục gỡi những tín hiệu  từ cứng đến mềm đến Iran. Nhưng chế-độ hung đồ ở Trung-Đông cứ xúc tiến trên con đường vũ-khí hạt nhân thì sớm muộn gì  Người Có Trách Nhiệm phải lấy một quyết định.
 
Trong cung-điệu xàng-xê của nghề ngoại-giao, lời lẽ cứng rắn đôi khi đem lại kết quả mà không cần phải ra tay. Nhưng lời lẽ đột nhiên đổi giọng cứng rắn của Ngoại Trưởng Hillary Rodham Clinton đối với Iran lúc này trở thành dấu hiệu đáng buồn:  Hoa Kỳ vẫn chưa có quyết định gì về cuộc chạy đua của các giáo chủ điên rồ muốn thụ đắc bom hạt nhân.
 
Sự lúng túng được phơi bày thấy rõ trong chuyến đi Trung-Đông của Ngoại Trưởng Clinton. Trong khi Iran cứ tiếp tục tiến hành làm giàu chất Uranium và đe dọa thế giới, Bà Ngoại Trưởng tuyên bố rằng  Iran đang trở thành một quốc gia độc tài quân phiệt. Nhưng Bà lại từ chối là Hoa Kỳ không có kế hoạch nào cho một cuộc tấn công quân sự.
 
Bà kêu gọi biện pháp phong tỏa cứng rắn hơn của Liên Hiệp Quốc, nhưng để lộ ý lo sợ khi cho rằng sự giáng trả của Hoa Kỳ cho một trái bom của Iran chỉ được xem như “chiếc dù phòng thủ” cho Trung Đông và một vài vùng ở Á Châu.
 
Có thể hiểu được nỗi lo âu của các đồng minh chí thiết của chúng ta, nhất là Do-Thái và A-Rập Séoudites. Không nước nào muốn thấy Iran thụ đắc vũ khí hạch tâm, và cả hai bực bội vì sự thụ động của Hoa Kỳ. Ngoại Trưởng A-Rập, Hoàng tử Saud al-Faisal cảnh báo Bà Clinton rằng hành động phong tỏa muộn màng cũng chưa đủ. Ông nói, “Chúng ta cần có giải pháp cấp thời”.
 
Sự lên tiếng của A-Rập cũng giống như Do-Thái. Nỗi ám ảnh lịch sử khiến cho cả hai nước cùng chia xẻ sự lo sợ chung là Tổng Thống Obama muốn để Iran thụ đắc bom hạt nhân rồi mới phối trí kế hoạch phòng thủ.
 
Chắc là sẽ có điều gì xảy ra nếu họ biết rõ chắc chắn chủ đích của Obama. Nhưng họ, cũng như Hoa Kỳ và phần còn lại của thế giới, chỉ còn biết đoán già đoán non, căn cứ vào nhiều tín hiệu không nhất quán, khiến mọi người tự hỏi không biết Obama có biết ông sẽ phải làm gì hay không.
 
Quan niệm ngô nghê nhất đến từ Phụ Tá báo chí Robert Gibbs, khi ông ta nói rằng chính sách ngoại giao kiên trì tiếp cận với Iran – hay là “những bước lùi”, như Obama thường nói – đã tỏ ra thành công bởi vì thế giới nay mới thấy rõ chính Iran, chứ không phải Hoa Kỳ, là kẻ tạo ra rối rắm.
Nói vậy thì sự thành công theo ông Phụ Tá Báo Chí định nghĩa là không đạt đựợc gì cả, phản ảnh hai quan niệm khó nghe.
 
Một là, Obama thật tình cho rằng Tổng Thống George Bush mới là người gây ra cớ sự. Hai là, Obama quan tâm nhiều hơn về tiến trình đối thoại hơn là kết quả.
 
Lời lẽ nguỵ biện không đem lại ích lợi gì cho nền an ninh quốc gia, và sẽ thật là tai hại nếu các giáo chủ tiến gần đến việc chế tạo được một trái bom. Như tôi đã báo cáo cách đây hai tuần từ Do Thái, mọi người cùng hiểu rằng quốc gia Do Thái nhỏ bé, sẽ không thể nào tồn tại được với một nước Iran có võ khí nguyên tử,  sẽ mở ngay một cuộc tấn công quân sự vào Iran nếu biết chắc chắn nước này thật sự có khả năng nguyên tử.
 
Cảm nhận về một cuộc bùng nỗ quân sự đang đến gần giúp  giải thích tại sao  có hàng loạt các cố gắng ngoại giao bao gồm  các cuộc viếng thăm vừa rồi  của Giám Đốc tình báo CIA Leon Panetta và Chủ Tịch Liên Quân Hỗn Hợp Đô Dốc Mike Mullen. Cả hai đều cảnh cáo chống lại một cuộc tấn công quân sự, nhưng đều không đưa ra sự bảo đảm  Hoa Kỳ cam kết ngăn chận Iran.
 
Một chỉ dấu quan trọng khác là chuyến đi Nga của Thủ Tướng Do Thái Benjamin Netanyahu. Ông ta thúc giục Mạc-Tư-Khoa hỗ trợ các biện pháp phong toả Iran, đồng thời hối thúc Nga hoãn lại việc giao cho Iran số phi đạn địa-đối-không.
 
Dĩ nhiên là Do-Thái lo ngại số phi đạn này  của Nga có thể ngăn chận các phi cơ chiến đấu Do Thái bay đến các điạ điểm nguyên tử của Iran.
 
Bằng cách nghĩ  điên rồ , chế độ hung-đồ ở Tehran (Iran) có thể mong đợi một cuộc tấn công của Do-Thái. Chừng đó, họ sẽ mở tung kho vũ khí của mình, và của các vệ-tinh Hezbollah, Hamas và đám dân quân ở Iraq. Đây là cơ hội để tạo nên một cuộc Thánh-chiến hỗn loạn toàn vùng, lấy được sự ủng hộ của cả khối Hồi-giáo rằng họ chỉ là nạn nhân của kẻ xâm lược Do-Thái.
 
Hoặc là, những kẻ đang cai trị ở Iran có thể lấy một chọn lựa khác nếu họ thật sự tin là Obama sẽ sử dụng lực lượng Hoa Kỳ. Cho đến bây giờ, họ đang có vẻ như không tin ông ta có ý định này, nên an tâm tự do theo đuổi giấc mơ nguyên tử của mình.
 
Obama có thể hoặc là chứng tỏ Iran nghĩ đúng, hoặc nghĩ sai. Thà sớm còn hơn muộn màng, Nhà Lãnh Đạo, Người Có Trách Nhiệm, dù muốn dù không phải lấy một quyết định, không thể xàng xê mãi được.
 
 
(Michael Goodwin là bỉnh bút tờ New York Post và  đóng góp cho Đài Fox News).

 
Tác giả : Michael Goodwin
Ngày 17 tháng 2-2010
Người dịch : Chính Tâm 

Rủi ro ‘gia tăng’ trong năm chuẩn bị Đại hội  

 

Reuters nhận định việc điều hành thường bị ảnh hưởng trong năm họp đại hội các cấp.

Dù Đại hội Đảng lần thứ XI còn một năm nữa mới khai mạc nhưng quá trình chọn lựa và cất cử nhân sự đã diễn ra ngay từ bây giờ, bài viết của Reuters ngày 17/2 cho hay.

Quá trình “dàn xếp, đổi chác trước Đại hội Đảng” theo Reuters có thể làm cho rủi ro kinh doanh tại Việt Nam gia tăng.

Hai chức vụ cao nhất trong ban lãnh đạo quốc gia, là Tổng bí thư và Chủ tịch nhà nước sẽ có nhân sự mới. Cạnh đó là một loạt các chức vụ quan trọng khác, trong hệ thống đảng và chính quyền, bài viết của Reuters cho hay.

Quá trình chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng, dự tính khai mạc vào tháng Giêng sang năm, tại Việt Nam vừa được Reuters so sánh với mùa bầu cử sơ bộ (primaries) tại Mỹ.

Đại hội Đảng thường diễn ra 5 năm một lần, và chuyên gia nhận định bộ máy điều hành các cấp gần như tê liệt thời gian trước cuộc họp vì các toan tính mặc cả và đổi chác chức vụ.

Cộng đồng doanh nhân nước ngoài lo lắng và đặt ra các câu hỏi về môi trường làm ăn trong năm được coi là khá nhạy cảm này

Ông Jacob Ramsay từ Văn phòng tư vấn kiểm soát rủi ro, Regional Risks Consultancy cho Reuters hay ông lo ngại việc điều hành hàng ngày, việc ra quyết định về chính sách quan trọng sẽ bị ảnh hưởng trước các mặc cả, dàn xếp về chức vụ, và chuyện này “đã diễn ra ngay từ bay giờ.”

Thái độ cầm chừng trong năm chuẩn bị đại hội các cấp sẽ buộc Việt Nam phải trả giá về mặt kinh tế, hãng tin Anh viết. Trong khi vụ xử những người bất đồng chính kiến, một phần do mâu thuẫn giữa các phe phái, sẽ làm mối quan hệ với Hoa Kỳ trở nên khó khăn.

Khó khăn

Reuters trích lời của một doanh nhân nước ngoài, người muốn phát biểu ẩn danh, nói bị ảnh hưởng nhiều nhất sẽ là các dự án cần hậu thuẫn cấp cao trong chính phủ. Hoặc dự án cần sự chấp thuận qua từng giai đoạn, như địa ốc, cơ sở hạ tầng.

Lĩnh vực kinh doanh phải được chấp thuận của hai phe, bảo thủ và cấp tiến, cũng sẽ bị ảnh hưởng. Reuters nêu ví dụ vụ Jetstar Pacific, khi tổng giám đốc người Việt đang bị tạm giam, trong khi hai giám đốc người Úc bị cấm xuất cảnh để điều tra về lỗ lã trong thương vụ mua xăng dầu phòng ngừa rủi ro.

Theo Reuters, vụ Jetstar đã làm cho “cộng đồng doanh nhân nước ngoài lo lắng và đặt ra các câu hỏi về môi trường làm ăn trong năm được coi là khá nhạy cảm này.”

Cạnh đó theo hãng tin Anh, bản án nặng nề dành cho các nhân vật hoạt động dân chủ thời gian gần đây, việc chặn mạng Facebook, giọng điệu chống ‘đế quốc’ trong nhiều tờ báo quốc doanh, có liên quan đến việc tranh giành quyền lực giữa các phe phái trước Đại hội Đảng.

Việc gia tăng đàn áp những người bất đồng chính kiến trong nước, theo Reuters, rất có thể sẽ tạo ra trở ngại mới trong quan hệ với Hoa Kỳ.

Năm nay hai nước Việt-Mỹ kỷ niệm 15 năm thành lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên tình hình nhân quyền tại Việt Nam sẽ buộc “nhiều người tại Capitol Hill và những nơi khác đặt câu hỏi về thương mại với Việt Nam,” một nhà ngoại giao Mỹ, người phát biểu ẩn danh, cho Reuters hay.

“Nó chỉ tạo ra môi trường khó khăn hơn trong việc thúc đẩy một số chủ đề hai nước đang quan tâm và muốn đẩy mạnh,” nhà ngoại giao Hoa Kỳ nói.

“Hiện đang có thêm vận động để đưa Việt Nam trở lại danh sách ‘Các nước cần quan tâm đặc biệt - CPC’ về tự do tôn giáo của Bộ Ngoại giao Mỹ, và CPC rất có thể sẽ dẫn tới cấm vận.”

***

GIÁ NHƯ CÓ NHỮNG CUỘC TẬP TRUNG !

 Hiện nay Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) chiếm 90%  lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam, và trên 50% tổng sản lượng lương thực của cả nước. ĐBSCL là địa bàn đặc biệt quan trọng trong vấn đề an ninh lương thực của Việt Nam. Vì ngoài việc cung cấp lúa gạo, nó còn cung cấp một sản lượng quan trọng. các sản phẩm từ chăn nuôi gia súc, gia cầm, và ngành nuôi trồng thủy sản, chưa kể đến các loại nông sản có chứa tinh bột khác…

 Việt Nam đang là nước đứng thứ nhì thế giới về xuất khẩu gạo chủ yếu nguồn đó từ ĐBSCL, và có vẻ như Việt Nam là một cường quốc về lúa gạo, thì người dân không bao giờ thiếu ăn. Nhưng thật trái khoáy và cực kỳ nghịch lý đó là, người nông dân ĐBSCL lại đang thiếu đói ngay trên mảnh đất hàng ngày sản sinh ra lúa gạo của mình.

 Ông Út Lam – Một lão nông 60 tuổi, từng phải viết tâm thư kêu cứu lên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng – Ngụ tại xã Tân Phước, Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp than thở với phóng viên Quốc Dũng báo Người Cao Tuổi ngày 12/02/2010: “Đa số nông dân còn nghèo lắm. Ở Tân Phước này, đến 80% hộ nông dân luôn thiếu trước hụt sau, khoảng 20% thì sống tạm đủ. Tôi đã thử để ý 30 hộ trong xóm từ 10 năm nay. Trong đó, chỉ vài người làm ăn tạm đủ, còn lại đều thua lỗ, nợ nần. Chỉ cần 1-2 vụ mất mùa hay lúa gạo rớt giá là họ phải bán bớt vài công đất, có khi bán hết để trả nợ. Tôi nghĩ đó cũng là tình cảnh chung của hàng triệu nông dân ĐBSCL và cả nước”.

 Muốn kiểm chứng sự thật nói trên, chỉ cần một người hãy thực hiện chuyến du lịch ngắn ngày về các “vùng đất giữa”, tức là những nơi cách đường quốc lộ và trung tâm thị xã, thị trấn, thị tứ một chút. Người ta sẽ thấy đập vào mắt du khách là cảnh nghèo khó không thể giấu giếm của những “thần nông” ĐBSCL.

 Vậy nguyên nhân nào đã dẫn đến cảnh nghèo đói, lạc hậu hiện nay của người nông dân Nam Bộ? Điều gì đã đẩy hàng triệu lao động chính từ các vùng đất phì nhiêu, phải lặn lội lên các trung tâm đô thị (nhiều nhất là Sài Gòn) để làm thuê làm mướn kiếm sống qua ngày? Kẻ gian nào đã khiến các cô gái nông dân Nam Bộ hiền lành chân chất, may mắn thì “được” làm “vợ mua” xứ người, kém hơn thì phải bán thân nuôi miệng trong những hang, những động mại dâm ở khắp đất nước Việt Nam?

 Bộ trưởng Bộ Công Thương Việt Nam - Vũ Huy Hoàng khẳng định: “đảm bảo cho người trồng lúa có lãi ít nhất 30%”. Đây là một phát biểu nặng về cảm tính khoa trương, thiếu cơ sở khoa học và thiếu thực tế. Nó thể hiện sự kém cỏi của người này. Ngay như tại Thái Lan cũng là một nước xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới, nhà nước Thái có nhiều chính sách hỗ trợ nông dân về mọi mặt, thì người nông dân cũng không đào đâu ra tỉ lệ lãi xuất 30% như vậy!

 Cuối năm 2009 vừa qua, dự thảo Nghị Định Kinh Doanh Xuất Khẩu Gao của Việt Nam đã qua bốn lần dự thảo, nội dung vẫn hết sức chung chung. Nhưng nổi lên là quy định nhà xuất khẩu độc quyền vẫn là Hiệp Hội Lương Thực Việt Nam (VFA). Trên thực tế, từ trước đến nay người nông dân không được trực tiếp xuất khẩu gạo, hạt gạo của họ đến khi lên tàu xuất cảng đều phải qua từ 4 đến 5 lần khâu trung gian. Theo ước tính, nông dân làm tới 90% khối lượng công việc, những người mua bán gạo chỉ làm 10% công việc. Nhưng chiếm tới 67% giá trị hàng hóa lại thuộc về người buôn bán sản phẩm này. Như vậy cứ.bán được 100 Đồng tiền gạo, thì người nông dân thu được 33 Đồng (trong đó chi phí bao gồm giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, công lao động và…lãi). Thật là một điều khó tin, nhưng có thật!  

 Vì VFA độc quyền xuất khẩu nên  mới có chuyện, quý 4 năm 2008 giá gạo thế giới tăng thêm đến 1000 USD/tấn, nhưng Việt Nam quyết định ngưng bán gạo. Nông dân cả nước nói chung, ĐBSCL nói riêng đều điêu đứng vì việc này. Giá cả chợ đen bất ngờ giảm mạnh, người dân buộc phải bán tháo lúa gạo không vì thiếu chỗ để như báo chí Cộng Sản đã nêu. Thực tế là vì, cứ đến mùa thu hoạch người nông dân lại phải lo áp lực trả nợ, nào là nợ ngân hàng, nào là nợ đầu tư vật tư chợ đen, tiền vay nặng lãi tư nhân vv… Theo tìm hiểu, nếu nợ đầu tư vật tư chợ đen, người nông dân sẽ phải chịu lãi 20% một vụ, vay lãi tư nhân trung bình từ 5- 10% trên tháng. Qủa là người nông dân chỉ còn biết… kêu trời!!!

 Vụ việc người nông dân ĐBSCL chịu thua lỗ nặng nề vụ lúa năm 2008 trong khi giá gạo thế giới lên cao. Đã phơi bày toàn bộ cái gọi là “chính sách an ninh lương thực”, thực sự là một trò giả dối trắng trợn của nhà cầm quyền CSVN. Lẽ ra, nếu dự báo năm sau mất mùa thì nhà nước phải có kế hoạch chuẩn bị kho bãi để dự trữ, mua vào toàn bộ lúa gạo của người nông dân theo giá thị trường, và sẵn sàng hỗ trợ bán lại cho nông dân khi họ mất mùa vụ sau. Nhưng thật là oái oăm, người nông dân bỗng dưng buộc phải biến nhà mình  trở thành kho dự trữ lúa gạo cho nhà nước, nhưng họ làm gì có điều kiện để làm việc ấy?

 “Ai ơi bưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần”. Đó là nỗi cực khổ của người nông dân đã in đậm vào ca dao Việt Nam. Hạt gạo làm ra, đôi khi người nông dân không chỉ phải đổ mồ hôi mà còn có cả nước mắt nữa...

 Từ ngày 28/11 đến ngày 02/12/2009 Festival Lúa Gạo Việt Nam đã khai mạc tại Hậu Giang, nội dung “tôn vinh hạt lúa và người nông dân”- Vẫn là trò cho dân “ăn bánh vẽ” rẻ tiền. Có lẽ, nếu nhà cầm quyền CSVN “tôn vinh” người nông dân theo cách thêm một lần ngưng xuất khẩu gạo như năm 2008 nữa. Thì đảm bảo đội quân ăn mày, ăn cắp, gái điếm, cướp giật ở các thành phố như Sài Gòn, Biên Hòa, Cần Thơ vv..,  sẽ lại càng đông thêm cho mà xem!

 Câu chuyện bi hài chìm nổi của con Cá Tra, con Bò Sữa, con Tôm Sú ở ĐBSCL nhiều năm qua, cũng là đề tài mà nhiều người đã rõ. Muốn thoát khỏi đói nghèo và có quyền tự chủ trong đời sống lao động sản xuất. Muốn có thương trường lúa gạo, lương thực thực phẩm lành mạnh. Người nông dân ĐBSCL phải đứng lên giành quyền tự quyết cho mình! Giá như gặp phải những tai ương có thể khả kháng như vụ việc “lúa gạo đầy nhà nhưng nông dân ngồi khóc” hồi năm 2008, người dân ĐBSCL biết liên kết lại. Chí ít thì họ có thể tổ chức một vài cuộc tập trung với quy mô từ vài ngàn đến vài chục ngàn người, đồng hành kéo lên trung tâm các tỉnh. Họ có quyền đưa ra yêu cầu đòi nhà cầm quyền bồi thường thiệt hại. Thì chắc chắn họ sẽ phải nhận được sự giải thích nào đó, cao hơn nữa thì họ có thể được đền bù thiệt hại. Thế nhưng điều đó đã chưa xảy ra. Người nông dân ĐBSCL vẫn đang cắn răng nhẫn nhục chịu phần thua thiệt…

  Lê Nguyên Hồng