| Diễn Đàn - Độc Giả |
|
BIẾN ĐỘNG ĐỒNG CHIÊM: Tinh thần Hiệp Thông: „Trăm Hoa Đua nở“! Lửa Chúa Thánh Thần đang thiêu đốt sự gian ác tại Việt Nam.
Lm Gioan Baotixita Đinh Xuân Minh (Đức Quốc) ____________ _________ _________ _________ _________ _________ _________ ___
Trải qua những cuộc „bể dâu“: từ Thái Hà, đến Tam Tòa, rồi Loan Lý, đến vụ Đức Mẹ ở Bầu Sen, Vĩnh Long, Dòng Thiên Ân, và đến hôm nay là sự kiện đã và đang xẩy ra tại Đồng chiêm, thì chúng ta có nhận xét tổng quát chung: Mức độ tinh thần Hiệp thông càng ngày càng gia tăng. Khi sự việc xẩy ra tại giáo xứ Thái Hà, vào những tháng cuối năm 2008, cũng đã là một điều đáng ghi nhớ trong lịch sử cứu rỗi dân tộc. Nhưng khi Tam Tòa xẩy ra, người ta nghĩ, khó mà có những cuộc xuống đường đông hơn Tam Tòa được. Mà đúng thật vậy. Cuộc xuống đường tuyên dương đức tin của giáo dân giáo Phận Vinh, cùng với Linh Mục đoàn và vị chủ chăn anh dũng gương mẫu là Giám mục Phaolô Cao Đình Thuyên, đã phải làm cho cả thế giới kính phục. Biến cố Tam Tòa đã nói lên một lòng nguyện thề ước liên đới với nhau, nói lên sự mộ đạo, và tinh thần đoàn kết, tình cha con trong địa phận cùng một Chúa. Với năm trăm ngàn (500.000) giáo dân Hiệp thông lên đường biểu dương đức tin, đã làm cho giặc đỏ Cộng sản phải hoảng sợ và lo ngại.
Trên toàn quốc, người Công Giáo tổng số có sáu (6) triệu, mà năm trăn ngàn giáo dân (500.000) đã hiên ngang can đảm ra khơi, thì đây, không phải là con số nhỏ. Vì, với 500.000 người hiệp thông với giáo xứ Tam Tòa, của giáo phận Vinh, chiếm 1/12 tổng số người Công giáo tại Việt Nam. Có nghĩa, cứ 12 người công giáo trong nước, thì đã có 1 người Công giáo CÔNG KHAI hiệp thông với giáo dân xứ Tam tòa. (Kiểm chứng được). Còn những giáo xứ khác âm thầm, đọc kinh thắp nến trong nước, có lẽ, cũng lên đến hàng trăm ngàn người. Theo chúng tôi biết, hầu hết những giáo xứ thuộc Giáo phận Xuân Lộc đều đọc kinh thắp nến hiệp thông cho Tam Tòa. Như vậy, với số giáo dân gần một triệu (1.000.000) của giáo phận Xuân Lộc, tăng con số Hiệp thông lên đến một triệu rưỡi (1.500.000). Đó là chúng ta chưa kể những địa phận tại miền Bắc, thuộc về Tổng Giáo phận Hà Nội, nơi tòa tổng Giám Mục của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt , vị chủ chăn gương mẫu sáng ngời, với đầy tấm lòng hy sinh tận tụy vì con dân Chúa.
Nhưng đứng trước biến cố Đồng Chiêm, thì có thể nói, tinh thần Hiệp Thông lên đến thật cao độ. Cao độ, không phải người dân xuống đường, song cao độ về mặt trường kỳ tranh đấu, và sức chịu đựng dẻo dai của các em thiếu nhi, và giáo dân giáo xứ Đồng Chiêm. Phá tan Thánh Giá bằng Xi-măng, dựng lên thánh giá bằng tre. Cao điểm cho Đồng Chiêm, là vì sự lên tiếng Hiệp thông của hầu hết các cơ quan truyền thông công giáo quốc tế trên toàn thế giới. Nhất là việc đài Radio Vatican đưa tin sự kiện Đồng Chiêm, đã xóa đi âm mưu của kẻ gian, muốn thuyên chuyển Đức TGM Ngô Quang Kiệt.
Cao điểm, vì, ngày 8/01/2010, chín (9) Giám mục (Gm) thuộc địa Tổng Giáo Phận Hà Nội đồng thanh lên tiếng Hiệp thông: Gm Phaolô Cao Đình Thuyên (Giáo phận Vinh); Gm Giuse Nguyễn Chí Linh (Gp Thanh Hóa), Gm Giuse Hoáng Văn Tiệm (Gp Bùi Chu), Gm Antôn Vũ Huy Chương (Gp Hưng Hóa), Gm Phêrô Nguyễn Văn Đệ (Gp Thái Bình), Gm Cosma Hoàng Văn Đạt (Gp Bắc Ninh), Gm Giuse Đặng Đức Ngàn (Gp Lạng Sơn), Gm Giuse Nguyên Năng (Gp Pháp Diệm) và Gm Giuse Vũ Văn Thiên (Gp Hải Phòng). Đức Cha Nguyễn Văn Yến (Phát Diệm) còn đến tận nơi để bày tỏ sự Hiệp Thông. Không những chỉ riêng chính (09) vị Giám mục thuộc Tổng Giáo Phận Hà Nội lên tiếng Hiệp thông, song còn có cả đức Giám Mục Micae Hoàng Đức Oanh, Giám Mục Kontum, thuộc Tổng Giáo Phận Huế đồng thanh hiệp thông với đức TGM Ngô Quang Kiệt lên tiếng.
Qua sự kiện Đồng Chiêm, là cơ hội tốt, để mọi người mọi giới lên tiếng Hiệp Thông. Không ai có thể viện cớ với lý do tranh chấp về đất đai, mà ngoảnh mặt làm ngơ trước hành động của quân giặc đỏ. Đây không phải là tranh chấp đất. Song quan trọng, phải nhìn ra đâu là Thiện để Hiệp thông và đâu là gian ác, tà gian mà xa tránh, chống đối phản cự. Việt Cộng phá tan biểu tượng Thánh giá có phải là quân dữ không? Phải qúa đi! Chúng muốn giận cá chém thớt! Với chiêu bài: Ai không hợp tác với ta, ta phá rối cho bằng chừa. Đấy là thủ đoạn bẩn thỉu của Việt Cộng. Nhưng chúng đã lầm! Ngọn lửa niềm tin khi đã bốc, không thể nào giập tắt được.
Không thể nào thành viên của Giáo hội thánh Thiện, đi làm tay sai cho kẻ Ác? Kẻ nào tiếp tay cho giặc Cộng đỏ đều là tòng phạm và thiết nghĩ, họ khó có chỗ đứng trong lòng giáo hội Công giáo thiện đức, trong tương lai, thời hậu Cộng sản. Đánh đập giáo dân tu sĩ là những trò tiểu nhân nham hiểm. Hỡi những anh em Công An Việt Cộng! Đừng dại dột, đừng ngu ngốc mà làm tay sai cho kẻ dữ! Rồi một ngày nào đó, những kẻ nào nhúng tay vào máu, có rửa sạch được không? Còn những kẻ ra lệnh cho các anh, thì chúng sẽ tẩu ra hải ngoại hết?! Xin đừng u mê! Đừng bao giờ Công An Cộng Sản, với hai bàn tay nhơ nhuốc ra hầu tòa với lý do: „hành động vì mệnh lệnh“. Xin nhớ! Con người có lý trí phán đoán và lương tâm. Chỉ có loài thú vật, mới làm theo lệnh ngu xuẩn mà thôi! Những thuộc hạ thuộc chế độ độc tài tàn ác Đức Quốc Xã, khi đứng trước hầu tòa, tại tòa án tại Thành phố Nürnberg, Đức Quốc, mọi đương sự đều chạy tội với câu: „Chúng tôi chỉ làm theo mệnh lệnh“. Quy hết mọi tội cho Hitler. Nhưng, những kẻ đã nhúng tay vào máu, đều phải đền tội. Chạy sao thoát khỏi lưới trời Công minh!
Tổng Giáo Phận Hà Nội, có trên dưới hai triệu giáo dân (2.000.000). Linh Mục đoàn của TGP Hà Nội là khoảng 372 vị. Nay cộng thêm số giáo dân thuộc giáo phận Kontum, với dân số Công giáo là 203.723, trên hai trăm ngàn giáo dân, cùng với 250 Nam nữ tu sĩ. (Đây là những con số, dựa theo cuốn kỷ yếu „Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, niên giám 2005“. Xuất bản tại Hà Nội 2005.) Như vậy, tổng số các linh mục Đoàn của các giáo phận là 622 vị, chưa kể những qúi nam nữ tu sĩ. (Đây chỉ là những con số thống kê của năm 2005). Ngày nay, năm 2010, theo chúng tôi suy nghĩ, con số giáo dân sẽ còn cao hơn, chắc chắn vài trăm ngàn và con số Limh mục Triều và Dòng, chắc cũng tăng vài trăm. Như vậy, với sáu triệu (6.000.000), tổng số công giáo trên toàn quốc Việt Nam, thì với con số giáo dân Hiệp thông, đại diện qua các vị Giám Mục chủ chăn, chiếm 1/3 tổng số giáo dân trong nước, đã công khai Hiệp thông. Họ chấp thuận đối đầu với gian thần gian manh Cộng sản Việt Nam, để bảo vệ chân lý và đạo lý.
Ngoài ra, với sự Hiệp thông của Liên đoàn Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, ngày 08/01/2010, qua sự đại diện lên tiếng của Lm Giuse Nguyễn Thanh Liêm, với trên dưới 700 Linh Mục tu sĩ và trên 500.000 giáo dân tại Mỹ. Ngoài ra, chúng ta còn phải kể thêm sự Hiệp thông lên tiếng của Liên Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Đức Quốc với gần 20.000 giáo dân, cộng với gần trên dưới 10 Linh Mục Tuyên Úy Cộng đoàn, cùng những Linh Mục phục vụ tại Đức Quốc. Cộng thêm những cộng đoàn bên Anh Quốc, Úc, Canada và Pháp. Như vậy, chúng ta, có thế tính được rằng, con số người giáo dân công khai ủng hộ sự đấu tranh của anh chị em giáo dân tại giáo xứ Đồng Chiêm lên tới trên ba triệu (3.000.000) giáo dân. Như vậy, con số hiệp thông lên tiếng công khai, từ trong nước, chỉ riêng với Liên Đoàn Công giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, đã lên tới khoảng hơn 3 triệu giáo dân, và 1.342 Linh Mục. Chưa kể những con số Linh mục Việt Nam bên Úc và Pháp, anh Quốc, Roma, mà chúng tôi chưa biết hết. Có phải năm nay, „năm Linh Mục 2009-2010“, các qúi Linh Mục Việt Nam đang viết lên trang sử lịch sử trọng đại cho Giáo Hội hoàn vũ nói chung và giáo Hội Công Giáo Việt Nam nói riêng? „Xin cho chúng con biết học với Cha Sở xứ Ars, niềm vui hiện lâu giờ trước thánh Thể Chúa - khám phá Lời Chúa chỉ dạy chúng con thật gần gũi đơn sơ, cảm nghiệm tình yêu Chúa dịu hiền biết bao khi đón tiếp tội nhân hoán cải, niềm bình an phó thác trong tay Mẹ Vô Nhiễm từ ái, và luôn tỉnh thức chống lại sự Ác Thần.“ (Kinh cầu cho các Linh Mục trong năm Linh Mục 2009-2010).
Và có thể nói hầu hết tập thể người Việt tị nạn Cộng sản tại hải ngoại, không phân biệt tôn giáo, đều hiệp thông hướng về Đồng Chiêm.
Xét chung: Chỉ riêng những vị Giám mục và Linh Mục thuộc Tổng Giáo Phận Sài-Gòn là chưa lên tiếng hiệp thông. Tại sao? Vì sự kìm kẹp của chế độ? Hay vì một thế lực đen tối nào? Hay vì những thành phần Giuđa đang phản lại Dân Tộc, phản động Giáo hội, và phản bội Chúa? Chúng ta lên tiếng là làm theo lẽ phải, theo lương tâm, theo sự thật, làm vì bênh vực cho Chân lý, không vì sợ hãi cá nhân riêng tư. Những Giáo hạt thuộc TGM Sài Gòn cũng có thể hợp nhất lên tiếng Hiệp thông. Hãy can đảm mạnh dạn ra khơi, vì tất cả chúng ta được Chúa sai đi, chống lại tử thần nguy hiểm. Đức Giêsu luôn đồng hành với chúng ta. „Thầy đây, các con đừng sợ!“ (Máthêu 4, 18-22). Tuy nhiên, trong TGM Sàigòn, có sự hiệp thông của Dòng Chúa Cứu Thế, tại Sàigòn Kỳ Đồng. Qúi tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế lên tiếng cũng là một động lực rất lớn quan trọng cho công cuộc đòi hỏi Công lý, bênh vực cho sự thật và lẽ phải. (Mặc dù nhà Dòng ở Sài gòn, nhưng dòng Chúa Cứu Thế không trực thuộc vào tòa TGM Sàigòn.)
Đặc biệt lần hiệp thông với Đồng Chiêm lần này, có hầu hết tất cả những báo chí quốc tế đưa tin. Từ những nước Cộng sản cũ như Ba Lan cũng đưa tin. Rồi những trang báo của Âu Châu cũng tường thuật vụ Đồng Chiêm. Những trang điện tử lớn nhất của người Thiên Chúa Giáo, đến những trang Radio của Tòa Thánh Vatican, cũng không ngoại trừ công khai lên tiếng lần này. Nói chung, có thể nói, gần hai tỉ (2.000.000.000. 000) người Thiên Chúa Giáo trên thế giới đều đang hướng về Đồng Chiêm. Như vậy, chúng ta qủa quyết khẳng định là, con đường tranh đấu của người giáo dân thuộc Tổng Giáo Phận Hà Nội là „chính đáng, công bình, phải đạo, và sinh ơn cứu độ cho chúng con“. (Kinh Tiền tụng)
Đây là một biến cố „Hiêp thông trăm hoa đua nở“, chưa bao giờ từng có trong lịch sử Việt Nam. Ngay cả những quốc gia dân chủ trên thế giới, họ cũng đồng loạt lên tiếng ủng hộ sự đấu tranh của những người có lòng thiện tâm. Họ đấu tranh đòi hỏi Công Lý Hòa bình và thiếp lập một nền thể chế chính trị dân chủ pháp trị, nền thể chế chính trị nhân bản, phi Cộng sản, không chịu vọng lai làm nô lệ; Họ ao ước nền chính trị thiện tâm bền vững, gạt bỏ tư tưởng gian manh mãnh thú của tập đoàn Cộng sản Hà Nội ra ngoài lòng dân tộc.
Các nước văn Minh tân tiến như Hoa kỳ, Anh, và Liên Hiệp Âu Châu, cũng đã đồng loạt lên tiếng, phản bác những luận điệu gian manh của tập đoàn tay sai Hán Cộng, trước những hành động xử sự ngạo ngược ngông cuồng, ngang trái đối với những nhà đấu tranh dân chủ trong nước. Bốn dân biểu Úc Châu, cũng đã lên tiếng ủng hộ sự đấu tranh của người liêm chính, đòi Công lý, sự thật và tự do tôn giáo.
Nói tóm lại: Biến động Đồng chiêm kết tụ công khai lên tiếng Hiệp thông của người Kytô giáo khắp năm châu, với trên dưới gần 2 tỉ người. Điều quan trọng hơn hết, đó là chúng ta đấu tranh cho lẽ phải, cho sự thật cho sự chính đạo; Và chúng tôi tin tưởng chắc chắn rằng, Thiên Chúa cùng đồng hành với chúng ta. Nếu Ngài cùng đồng hành, chúng ta thành công. Vì chúng ta biết, không có Ngài trợ giúp, „chúng ta không làm gì được“ (Gioan 15, 5). „Ai không ở trong Ngài, sẽ bị vất bỏ đi và bị thiêu đốt!“ (Gioan 15, 6). Biến động Đồng Chiêm như là lửa Chúa Thánh thần đang thiêu rụi những sự gian ác. Lửa đang thử vàng, để trở vàng ròng; gian nan đang thử sức, để Giáo hội trở thành thánh thiện, không bị vương mắc đồng dạng a dua a tòng với sự Ác. Đừng trao Giáo hội cho Ác! Lửa thử vàng, gian nan thử sức. Càng ngày, chúng ta càng thấy sức mạnh của chúng ta, những người thiện tâm, chống lại những kẻ dã tâm, vì nhờ có ơn sức Chúa ban. Hãy làm thật, nói thật, bênh vực cho sự thật, làm chứng cho sự thật, dấn thân cho sự thật, chúng ta sẽ không sợ!
Ngọn lửa Đại hội giới trẻ năm 2008 tại Sydney đang thổi về Việt Nam. Chúa Thánh Linh đang ban thêm sức cho chúng ta. Lửa đốt tan rụi những sự gian manh giả dối. Lửa chiếu chói sáng rạng đường cho chúng ta đi. Lửa Chúa Thánh Thần như đốt cháy những gian nhà đen tối. Lửa Chúa Thánh Thần làm „cháy nhà lòi mặt chuột“. Rồi đây, những con „chuột“ sẽ bị „lòi“ ra. Còn những kẻ làm tay sai cho sự gian ác, sẽ mãi trong bóng tối nguyền rủa, và sẽ chỉ còn cách „ném đá dấu tay“, hay sẽ bị bọn giặc đỏ vắt chanh bỏ vỏ. Biến cố Đồng Chiêm là cơ hội để mọi người mọi giới có lòng ngay, nếu không vì áp lực, tùy khả năng, lên tiếng hiệp thông công khai hay âm thầm với lòng thật tâm. Nếu không, sẽ „câm nín“ suốt đời!
(Đức Quốc, thứ hai, ngày 25/01/2010, lễ kính thánh Phaolô trở lại). ***** Tại Sao Bảo Thủ Hơn?
Trần Khải
Một điều hiển nhiên thấy rõ là chính phủ CSVN đang trở nên bảo thủ hơn. Tại sao lại đi ngược khuynh hướng đã diễn tiến nhiều năm qua, và đi ngược cả những lời cam kết với quốc tế? Thực sự, chính phủ CSVN hiện nay không bận tâm chuyện đất nước đi về đâu, mà chỉ quan tâm về sự tồn tại và phát triển của Đảng CSVN, và họ sau khi đồng hóa đảng với nhà nước, thì cũng tinh vi tiến hành đồng hóa quyền lợi đất nước với quyền lợi đảng.
Như thế, ai nắm quyền trong đảng, là nắm đặc quyền đặc lợi. Đó là lý do để họ căm thù những ai kêu gọi đa đảng, và mỗi khi gần Đại hội đảng là hàng loạt động thái phải diễn ra để tự chứng tỏ với nhau rằng mình là người bảo thủ nhất, là người bảo vệ quyền lợi đảng nhiều nhất, và là người xứng đáng nhất để được bầu lên chức cao hơn trong đảng.
Do vậy, cái gọi là nền kinh tế Việt Nam ở những tầng lợi nhuận nhiều nhất lại nằm trong tay các đảng viên và gia đình thân tộc của họ. Nền kinh tế như thế sẽ dẫn tới đâu, và bao giờ có thể tự sụp đổ? Và các thế hệ con cháu của họ sau khi du học Mỹ về nắm quyền có bao giờ ước muốn thiết lập dân chủ đa đảng cho VN hay không, khi họ phải chấp nhận chống lại cả những thế hệ cha anh của họ để xóa bỏ chế độ độc đảng?
Báo Foreign Policy (foreignpolicy.com) hôm 21-1-2010 có bài viết nhan đề “Vietnam’s New Money” (Đồng Tiền Mới của VN) cho thấy một viễn ảnh u ám của kinh tế và xã hội VN, khi các gia tộc CSVN chia nhau quyền lợi bằng các thủ đoạn trong bóng tối hệt như các phim hình sự mafia.
Bài báo viết rằng hầu hết những người chỉ huy kinh tế tư doanh hiện này là do đảng chỉ định, hay gia đình họ, hay bạn bè của họ. Như thế, giới thượng lưu CSVN đang biến chủ nghĩa tư bản VN trở thành một kinh doanh gia đình.
Một điển hình nêu trong bài báo là trường hợp một trong những người giàu nhất VN, ông Trương Gia Bình, chủ tịch công ty tin học lớn nhất VN, hãng FPT. Bình là chồng cũ của con gái cuả tướng Võ Nguyên Giáp.
Một thí dụ khác là Đinh Thị Hoa, người VN đầu tiên tốt nghiệp MBA, cao học kinh doanh, tại Đạị Học Harvard. Đầu thập niên 1990s, khi Ngân Hàng Thế Giới muốn kích động nền kinh tế tư doanh ở VN, mới cấp học bổng cho tuổi trẻ, trong đó có Hoa. Khi về VN, Hoa sử dụng kiến thức để lập công ty có tên là Galaxy, bây giờ sở hữu một hãng PR (tiếp thị quảng cáo), chủ hầu hết các hệ thống tiệm ăn kiểu Tây Phương tại VN, một rạp hát lớn ở Sài Gòn, và cả một hãng sản xuất phim ảnh. Trông thì đúng là mô hình kinh tế tư doanh thành công. Nhưng Galaxy là một trong nhiều công ty thuộc sở hữu của con cái các lãnh tụ đảng. Khi WB cấp học bổng cho Hoa, cha của Hoa là Thứ Trưởng Ngoạị Giao.
Việc kết hợp tài sản của cả nước vào tay các gia đình quyền thế tại VN đang bóp méo nền kinh tế này: kinh tế sẽ đi theo ý muốn của một số ít người, chứ không đi theo nhu cầu của đa số dân. Và mạng lưới chủ nghĩa xã hội bè cánh chia chác kinh tế đang trở thành một đe dọa cho ổn định tương lai VN.
Do vậy, các đại hội đảng là dip các đảng viên phải ra sức tranh giành ghế, và cũng là để đưa người thân tín của mình vào các chức vụ quan trọng.
Đài RFI Pháp Quốc hôm 22-1-2010 trong bản tin nhan đề “Theo Human Rights Watch, Việt Nam coi thường các cam kết quốc tế khi kết án các nhà bất đồng chính kiến” đã loan tin:
“Trong phiên xử ngày thứ tư 20/1 vừa qua, luật sư Lê Công Định đã lãnh án 5 năm tù, còn thạc sĩ tin học và blogger Nguyễn Tiến Trung bị tuyên phạt 7 năm tù. Cả hai đều bị xử với tội danh '' hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, giống như nhà doanh nghiệp Trần Huỳnh Duy Thức, nhưng ông Thức bị kết án đến 16 năm tù. Bị cáo thứ tư là ông Lê Thăng Long thì lãnh án 5 năm tù.
Trong bản thông cáo, tổ chức Human Rights Watch cho rằng, khi cầm tù những nhà đấu tranh dân chủ ôn hòa, ''chính quyền Việt Nam rõ ràng là coi thường các cam kết về nhân quyền đối với ASEAN và với cộng đồng quốc tế''. Theo tổ chức này, thái độ ác cảm của Việt Nam đối với quyền tự do ngôn luận và các quyền căn bản khác không phải là một dấu hiệu tốt cho ASEAN mà Việt Nam kể từ nay nắm chức chủ tịch''...
Trong bản thông cáo, Human Rights Watch nhắc lại là trong năm 2009, hàng chục nhà hoạt đọng dân chủ, blogger, dân khiếu kiện về đất đai và thành viên các tổ chức tôn giáo không được công nhận đã bị bắt giam ở Việt Nam. Trả lời phỏng vấn ban Pháp ngữ đài RFI hôm nay, phát ngôn viên Human Rights Watch Reed Brody cho biết :
"Việc kết án này càng làm nổi bật thêm bầu không khí trấn áp đang tồn tại ở Việt Nam. Trong năm vừa qua, hàng chục nhà đấu tranh dân chủ, blogger, những công dân bình thường đã bị kết án tù chỉ vì bày tỏ ý kiến phản biện. Từ nhiều năm nay ở Việt Nam không có tự do chính trị. Sắp tới sẽ diễn ra Đại hội đảng cộng sản vào năm 2011, có thể người ta sẽ còn thấy chuyện bắt bớ và đàn áp những người bắt đồng chính kiến nhiều hơn...” (hết trích)
Thực ra, không chỉ ra sức đàn áp những người kêu gọi dân chủ đa đảng. Trong bất kỳ một biểu hiện nào có vẻ như trái ý nhà nước, dù ở Tu Viện Bát Nhã của Phật Giáo hay ở gioá xứ Đồng Chiêm của Công Giaó, các cấp đảng ủy đều xem như là cơ hội để chứng tỏ lòng trung thành tuyệt đối của họ với đảng và nhà nước. Bất kể bạo lực, đó là cơ hội vàng để lấy điểm trước kỳ đạị hội đảng.
Nóí là “đảng và nhà nước” như đoạn văn trên mới viết, thực ra là đảng đã đồng hóa nhà nước vào với đảng. Thậm chí, cũng không buồn viết kiểu “nhà nước và đảng” làm gì. Bởi vì quyền lực đảng đã khai sinh ra nhà nước này. Đúng vậy, tiền của đảng còn nhiều hơn tiền của nhà nước.
Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam trong ngày 19-6-2006 có nói về tài chính đảng:
“Chương XI: Tài chính của Đảng
Điều 46:
1.Tài chính của Đảng gồm đảng phí do đảng viên đóng, từ ngân sách nhà nước và các khoản thu khác...”
Nên thâý rằng, các đảng viên đóng thì không bao nhiêu, mà thực ra là đục khoét mới đúng. Còn “các khoản thu khác” mới là quan trọng, khổng lồ, và không bao giờ minh bạch với dân chúng, với nhiều triệu người đã góp xương máu để xây dựng nên chế độ này.
Nhà báo Bùi Tín trên trang blog viết riêng cho VOA ngày 21-12-2009 có bài nhan đề “Đây mới thật là 'quỹ trái phép' đáng xem xét” đã nói về ban tài chính đảng, trích như sau:
“...Tôi được biết việc này một cách ngẫu nhiên, trên chiếc chuyên cơ Il-18 cuối năm 1975, khi ngồi trong buồng VIP cùng vợ chồng ông Hoàng Quốc Thịnh, trước kia là bộ trưởng Bộ Nội thương, lúc ấy là trưởng ban Tài chính - Quản trị trung ương đảng. Vốn có tính tò mò của nhà báo tìm hiểu nhiều chuyện lạ, tôi gợi ý để vợ chồng ông Thịnh tự kể về biên chế, trách nhiệm, công việc rộng lớn, quan trọng, cực kỳ ghê gớm của cái ban siêu đẳng này.
Chuyện rất lạ, lôi cuốn, để đến nay sau hơn 30 năm, tôi còn như nghe lại rõ giọng nói như khoe của ông Thịnh, và thỉnh thoảng lời nhắc, thêm”dấm ớt" của bà Thịnh, vì bà cũng là cán bộ cao cấp - hàm thứ trưởng - của cái ban siêu đẳng này. Bà cho tôi biết”chị Nguyễn Khánh cũng là cán bộ cấp cao, vụ trưởng vụ kế toán của Ban"; chị Nguyễn Khánh đây là vợ ông Nguyễn Khánh, lúc ấy là phó thủ tướng, 1 trong 8 phó thủ tướng khi ấy.
Ông Thịnh kể cho tôi, rằng” phụ giúp trong trách nhiệm nặng nề của ông có 9 phó ban, đều hàm thứ trưởng, mỗi phó ban đảm nhận một phần việc: tài chính - ngân sách - kế toán của ban; bất động sản của đảng: nhà cửa, trụ sở, nhà khách, nhà nghỉ, đất đai, rải ra khắp nơi, tập trung ở Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Nha Trang, Đà Lạt, Sài Gòn, Vũng Tàu...; các cở sở kinh doanh công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, thủ công nghiệp, xuất nhập khẩu, tuyên truyền, văn hoá riêng của đảng. Quan trọng nhất có những thửa ruộng đặc biệt trồng cây thuốc phiện ở Lạng Sơn, Lai Châu; những thửa ruộng trồng lúa nếp cái hoa vàng, lúa tám thơm ở ngoại thành Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình; trại nhãn và nuôi ong ở Hưng Yên; các cửa hàng cung cấp đặc biệt, bán hàng riêng cho uỷ viên trung ương, ban bí thư và bộ chính trị; toà soạn tạp chí Cộng sản, toà soạn báo Nhân Dân, toà soạn báo Tiền Phong của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Sự Thật, Nhà in báo Nhân Dân; các trường Nguyễn Ái Quốc từ huyện, tỉnh đến trung ương), hệ thống giao thông vận tải của đảng (các bãi xe, xưởng sửa chữa, ôtô, xe tải, tàu thuyền, môtô của đảng).
Lại có riêng một vụ chuyên trách về hoạt đông kinh tế - tài chính của đảng ở nước ngoài, thu nhập và gửi tiền ngoại tệ của đảng, góp vốn đầu tư của đảng, quản lý tiền chứng khoán của đảng ở nước ngoài...”(hết trích)
Quyền lực và tài sản là động cơ phía sau của tất cả các chuyện đàn áp các nhà dân chủ và các biểu hiện tôn giáo “lệch hướng” hiện nay: các quan chức cần tranh đua nhau trước đại hội đảng.
Biểu hiện này còn thấy rõ khi trao các quyền lực kinh tế cho quân đội. Vai trò đầu tàu trao cho các tập đoàn kinh tế Nhà nước, và đặc biệt thiết lập tập đoàn kinh tế từ các công ty hiện do quân đội CSVN kinh doanh, lý do là để tìm sự trung thành tuyệt đối từ các sĩ quan Bộ Quốc Phòng, khi biến các sĩ quan thành các giám đốc công ty.
Một điển hình: Thiếu tướng CSVN Hoàng Anh Xuân - Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel - giải thích với báo Lao Động ngày 12-1-2010 là: “vừa phục vụ đời sống xã hội, phát triển kinh tế, đồng thời cũng là mạng lưới thông tin quân sự, cần phải đảm bảo tính chủ động, bí mật và an ninh quốc gia.”
Như thế, làm sao các sĩ quan cấp úy, tá ở cấp dưới có thể dám tố cáo ông Tướng Tư Lệnh Tập Đoàn Kinh Tế tham nhũng?
Báo Công An Nhân Dân trên số ngày 17-1-2010 trong bản tin nhan đề “Phát huy vai trò đầu tàu tập đoàn kinh tế Nhà nước” đã cho biết về hướng quốc doanh chủ đạo:
“Ngày 16/1, tại Hà Nội, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) đã tổng kết công tác năm 2009 và triển khai kế hoạch nhiệm vụ công tác năm 2010. Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng đến dự và phát biểu chỉ đạo.
Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng đã biểu dương và hoan nghênh những thành tích mà PVN đã đạt được trong năm 2009… Phó Thủ tướng nêu rõ: Năm 2010 là năm bản lề của kế hoạch 2006-2010 và là năm tạo tiền đề cho việc thực hiện kế hoạch 5 năm tiếp theo, với vai trò là tập đoàn kinh tế Nhà nước đầu tàu đóng góp khoảng 18% GDP và 25% ngân sách quốc gia, PVN cần phải rà soát, bổ sung chiến lược phát triển (bao gồm quan điểm, định hướng và mục tiêu phát triển) của toàn tập đoàn theo hướng thích nghi với giai đoạn mới kể cả trong trung hạn và dài hạn...”
Như thế, kinh tế tư doanh sẽ bị sức ép lớn, kể cả ở dài hạn.
Chỉ nói riêng về các trạm xăng thôi, Ban tài chính đảng cũng thò tay vào. Nghĩa là, góc phố nào cũng thấy đồng tiền nằm trong tay của đảng. Bản văn nhan đề “Đánh Giá Thực Trạng Kinh Doanh Xăng Dầu Trên Địa Bàn Tỉnh Đồng Nai Thời Kỳ Đến Năm 2002,” đăng ở trang Đồng Nai nói riêng về các trạm xăng ở tỉnh Đồng Nai, cho thấy, trích:
“…Đối tượng kinh doanh xăng dầu:
Hoạt động kinh doanh xăng dầu trên địa bàn rất đa dạng gồm mọi thành phần kinh tế tham gia, bao gồm các thương nhân đăng ký kinh doanh theo các loại hình: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp nhà nước trung ương-địa phương, doanh nghiệp thuộc tài chính Đảng, các chi nhánh của doanh nghiệp ngoài tỉnh và các doanh nghiệp thuộc sở hữu của Quân đội.
Mạng lưới kinh doanh, tiêu thụ:
Tổng số các điểm kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến ngày 31/12/2002 với tổng số là 224 trạm xăng dầu bố trí trên địa bàn Thành phố Biên Hòa và 8 Huyện (trong đó: 217 điểm nằm trong mạng lưới qui hoạch, 07 điểm thuộc quân đội đang chờ xử lý vì chưa đủ điều kiện trở thành thương nhân). Phân chia theo loại hình doanh nghiệp như sau: doanh nghiệp nhà nước là 32; công ty cổ phần là 14; doanh nghiệp thuộc tài chính Đảng là 21; quân đội là 11; công ty trách nhiệm hữu hạn là 28; doanh nghiệp tư nhân là 118…” (hết trích)
Như thế, Đảng CSVN trở thành một vị vua nhiều quyền lực hơn các vua trước giờ trong lịch sử, và với mạng nhện bạo lực cấu kết với xã hội đen nên tự biến thành một siêu đảng mafia, nơi quyền lợi ban phát là tùy theo mức độ côn đồ... Bên trong thì như thế, bên ngoài là đàn anh Phương Bắc thò tay vào. Đất nước sẽ đi về đâu?
*****
Nguyễn Tấn Dũng Sẽ Bị Truy Vấn Tại WEF Tại Davos lần này, trên Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới (WEF) năm 2010, với vai trò chủ tịch ASEAN 2010 CỦA Việt Nam, ông ta sẽ nói những gì và dự kiến sẽ phải trả lời những gì trước cộng đồng quốc tế? WEF Davos 2010 thu hút hơn 200 lãnh đạo cấp cao của nhiều Chính phủ và các tổ chức quốc tế, hơn 1000 lãnh đạo các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, cùng hàng trăm học giả và báo giới quốc tế. Mọi người đều biết rằng, diễn đàn WEF qua 40 năm tổ chức, nó đã khẳng định vai trò quan trọng của mình như là một trong những diễn đàn toàn cầu uy tín nhất thế giới, thu hút sự quan tâm và tham dự của hầu hết lãnh đạo của các nước lớn, các tổ chức quốc tế cũng như các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới. Với những lợi thế về địa lý, vế tiềm năng phát triển, về nguồn nhân lực lao động, Việt Nam có nhiều cơ hội được giới đầu tư quốc tế quan tâm. Sự phát triển kinh tế luôn cần một môi trường trong sạch, an toàn, ổn định về chính trị xã hội, để đầu tư. Việt Nam trong nhiều năm qua đã giữ được sự ổn định, nhất thời thu hút nhiều nguồn đầu tư từ nước ngoài. Nhưng sự ổn định đó ở Việt Nam hoàn toàn mang tính giả tạo, kiểu “bong bóng”. Nguyên nhân tạo nên một nền kinh tế phát triển thiếu bền vững thì có nhiều, và ở mỗi quốc gia, mỗi khu vực lại có những nguyên nhân mang tính đặc thù của nó. Nhưng quan trọng nhất, và cũng là đáp số luôn luôn đúng, đó là: Nền chính trị nào, thì nền kinh tế ấy! Nền chính trị ở Việt Nam hôm nay đã không thể theo kịp và bắt nhịp được với nhu cầu phát triển một nền kinh tế thị trường, vốn là một mô hình đòi hỏi có sự thông thoáng về các thủ tục hành chính, tự do cạnh tranh. Mà với cơ cấu độc quyền chính trị, đưa nhiệm vụ “bảo vệ chính trị” lên hàng đầu, chế độ do ĐCSVN nắm quyền, luôn “giương cao ngọn cờ độc lập tự cường” giả hiệu, để cán bộ các cấp tự do chia chác lợi nhuận kinh tế, thậm chí là chia nhau tham nhũng ngay những đồng tiền vừa mới nhận về từ những nguồn viện trợ phát triển của quốc tế! Thảm trạng đó chính là không có một cơ chế chính trị đa nguyên để kiểm soát lẫn nhau… Chủ đề chính của Hội nghị WEF năm nay hướng tới lời kêu gọi hành động: “Cải thiện thực trạng thế giới: Cùng suy nghĩ lại, tái thiết và tái xây dựng”, trên cơ sở đó tập trung vào 6 mục tiêu toàn cầu lớn: Củng cố các nền kinh tế, giảm bớt các nguy cơ mang tính toàn cầu, đảm bảo phát triển bền vững, tăng cường an ninh kinh tế, tạo ra một khuôn khổ các giá trị, xây dựng các thể chế hiệu quả. Thực trạng của Việt Nam là gì? Là một một nền chính trị độc tài không thể là môi trường tốt cho phát triển kinh tế thị trường. Một môi trường pháp lý thiếu minh bạch, đồng nghĩa với những rủi ro của nhà đầu tư không được luật pháp hỗ trợ và bảo vệ đúng mức. Với chiêu bài “bảo vệ chính trị”, công an có thể can thiệp, giám sát vào bất cứ lĩnh vực nào của xã hội, mà các đơn vị kinh tế không nằm ngoài sự kiểm soát ấy. Những suy giảm đầu tư trong năm 2009 của quốc tế vào Việt Nam (cộng thêm yếu tố suy thoái kinh tế toàn cầu), đã cho thấy giới đầu tư nước ngoài dự đoán được nguy cơ rủi ro cao, bởi việc mất ổn định chính trị xã hội của Việt Nam trong tương lai, do yếu tố môi trường chính trị hiện đang hoàn toàn không có tự do về chính trị. Bộ Kế hoạch - Đầu tư của Việt Nam cho biết, lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký cả năm 2009 là 21,48 tỷ đôla, chỉ bằng 30% năm 2008.
Với một hệ thống pháp luật một chiều như những gì đã xảy ra trong các phiên tòa xét xử các nhà bất đồng chính kiến và các nhà hoạt động chính trị đối lập vừa qua tại Việt Nam. Quốc tế đã thấy rõ sự không công bằng, bất minh, phản khoa học trong môi trường pháp lý. Vì vậy mối quan ngại về nhiều mặt trong đó có việc đầu tư kinh tế vào Việt Nam của các nhà đầu tư là hoàn toàn có căn cứ. Không phải tự nhiên mà Bộ Ngoại Giao, Quốc Hội, và kể cả nhiều vị dân biểu của các quốc gia như Hoa Kỳ, Châu Âu, Úc vv… đã phải lên tiếng chỉ trích những sự bất công này.
Đứng trước cộng đồng quốc tế WEF lần này, tuy chỉ là một diễn đàn kinh tế, nhưng chắc chắn ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ phải trả lời nhiều câu hỏi hóc búa do nhiều quan chức cao cấp của các quốc gia dân chủ đặt ra. Đặc biệt là ông ta sẽ phải trả lời về những vụ án chính trị bỏ túi vừa qua, nhằm làm rõ mức độ minh bạch trong môi trường pháp lý tại Việt Nam hiện nay.
Một trong những chủ đề quan trọng của diễn đàn WEF lần này là: “Cải thiện thực trạng thế giới”, “cùng suy nghĩ lại”. Vậy ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ nói gì về việc cải thiện thực trạng ở Việt Nam? Việt Nam đã “suy nghĩ lại” những gì, và sẽ tiếp tục “suy nghĩ” điều gì để đảm bảo các quyền con người như tự do kinh tế, tự do chính trị, tự do tư tưởng. Vì xét cho cùng thì mọi nỗ lực phảt triển đều đi đến đích cuối cùng là phục vụ đời sống của con người.
Chúng ta sẽ cùng chờ xem những gì sẽ diễn ra trong và sau khi hội nghị Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới kết thúc vào ngày 31/01/2010.
Lê Nguyên Hồng Email: ln0868@gmail. com |
